Tiếng Gõ Quan Tài - Cao Cao Hưng Hưng

Chương 3

Trước Tiếp

Dòng chữ viết: “Đêm hồi môn, giờ Tý ba khắc, tự mở quan tài đứng dậy.”

 

Phía sau tên ông nội cũng viết: “Đêm hồi môn, giờ Tý ba khắc, tự mở quan tài đứng dậy.”

 

Phía sau tên ông cụ cố vẫn là: “Đêm hồi môn, giờ Tý ba khắc, tự mở quan tài đứng dậy.”

 

Tay tôi bắt đầu run cầm cập.

 

Thế này là có ý gì?

 

“Tự mở quan tài đứng dậy” là sao?

 

Tôi tiếp tục lật về phía sau.

 

Trang của bà nội viết: “Mất ngày 12 tháng 6 năm 2024. Đêm hồi môn, giờ Tý ba khắc, tự mở quan tài đứng dậy. Nhớ kỹ: trong vòng 3 ngày phải đóng chết mười hai cây đinh, không được để bất kỳ ai lại gần.”

 

Bên dưới là tên của bố, dù chưa ghi năm mất nhưng dòng chữ nhỏ phía sau đã được viết sẵn từ bao giờ:

 

“Đêm hồi môn, giờ Tý ba khắc, tự mở quan tài đứng dậy.”

 

Ngay bên dưới nữa chính là tên của tôi:

 

“Đêm hồi môn, giờ Tý ba khắc, tự mở quan tài đứng dậy.”

 

Tôi gập cuốn sổ lại, tay run đến mức suýt không cầm nổi.

 

Mỗi thế hệ nhà chúng ta đều sẽ “hồi môn” sao?

 

“Hồi môn” rốt cuộc là cái gì?

 

Có phải giống như bà nội, sau khi chết rồi vẫn sẽ quay về?

9.


Tôi cầm cuốn sổ đó đi tìm bố.


Ông vừa từ ngoài mộ về, đang ngồi giữa sân hút thuốc. Vừa thấy thứ trên tay tôi, sắc mặt ông biến đổi hẳn.


“Con tìm thấy nó ở đâu?”


“Trong phòng bà nội ạ.”


Ông im lặng rất lâu.


“Con thấy hết rồi à?”


“Thấy rồi ạ.” Tôi đưa cuốn sổ cho ông: “Bố, rốt cuộc đây là chuyện gì?”


Ông nhận lấy cuốn sổ, lật vài trang rồi thở dài.


“Lúc còn sống, bà nội con dặn bố phải đốt cái này đi, nhưng bố không nỡ.”


“Trên này viết thế là ý gì? Hồi môn là sao? Tự mở quan tài đứng dậy là thế nào?”


Ông nhìn tôi, ánh mắt đầy phức tạp.


“Con có biết tên làng chúng ta không?”


Tôi ngẩn ra một lúc: “Tên làng mình ấy ạ?”


“Làng Hồi Môn.”


Tôi lớn lên ở đây từ nhỏ, dĩ nhiên là biết tên làng. Nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ cái tên này có ý nghĩa gì đặc biệt. Nó chỉ là một cái tên thôi, cũng giống như làng họ Lý hay xóm họ Vương vậy.


“Thế con có biết, tại sao làng lại gọi là Hồi Môn không?”


Tôi lắc đầu.


Ông chỉ vào dòng chữ trong cuốn sổ.


“Đêm hồi môn, giờ Tý ba khắc, tự mở quan tài đứng dậy.” Ông dừng lại một chút, “Người nhà họ Lâm chúng ta, sau khi chết vào đêm thứ 3 sẽ từ trong quan tài ngồi dậy.”


Đầu óc tôi ong lên một tiếng.


“Bố, bố nói gì cơ?”


“Đây là quy củ của nhà ta, cũng là lời nguyền của nhà ta.” Ông rít một hơi thuốc, “Chuyện này truyền lại từ đời ông cố nội, không biết đã bao nhiêu năm rồi. Người nhà họ Lâm, sau khi chết vào đêm thứ 3 sẽ ‘hồi môn’. Họ sẽ từ trong quan tài ngồi dậy, đi ra khỏi nhà, đi một vòng quanh làng, sau đó mới quay về mộ.”


“Chuyện... chuyện này sao có thể chứ?”


“Bố cũng từng không tin.” Ông cười khổ: “Cho đến 30 năm trước, lúc mẹ của bà nội con mất.”


“Mẹ của bà nội?” Tôi chưa từng nghe nói về người này.


“Là bà cố ngoại của con. Lúc bà ấy mất, bà nội con mới 20 tuổi, còn chưa gả cho ông nội.” Ông nhìn về phía xa, ánh mắt mông lung: “Đêm thứ 3 sau khi bà cố ngoại con mất, bà nội con ra canh linh cữu. Đến nửa đêm, bà nghe thấy trong quan tài có tiếng động.”


Tim tôi thắt lại.


“Bà nghe thấy ba dài hai ngắn. Giống hệt như con đã nghe. Bà sợ quá, liền gọi người lớn dậy. Họ mở quan tài ra, bên trong…”


Bố ngừng lại.


“Bên trong sao hả bố?”


“Bên trong trống rỗng.”


Lưng tôi lạnh toát.


“Bà cố ngoại con biến mất. Họ tìm cả đêm không thấy. Sáng hôm sau, có người phát hiện bà đang ngồi trên tảng đá đầu làng, mỉm cười nhìn phía mặt trời.”


“Sau đó thì sao ạ?”


“Sau đó bà đứng dậy, đi bộ về lại chỗ quan tài, nằm xuống rồi không bao giờ dậy nữa.” Ông nhìn vào mắt tôi, “Từ đó về sau, bà nội con liền phát điên. Mỗi đêm bà đều phải kiểm tra lại xem quan tài đã đóng đinh kỹ chưa, cứ kiểm tra đi kiểm tra lại mãi. Con biết tại sao không?”


Tôi lắc đầu.


“Bởi vì chính bà cũng sợ. Bà sợ sau khi mình chết đi cũng sẽ giống như mẹ mình, từ trong quan tài ngồi dậy.”

10.

Đêm đó, tôi không dám chợp mắt.


Bố tôi nói, hôm nay là ngày thứ ba kể từ lúc bà nội mất.


Đêm nay chính là “đêm hồi môn”.


Tôi khóa trái cửa phòng, đóng chặt cửa sổ rồi co ro trên giường, không dám thở mạnh. 


Bên ngoài tĩnh lặng đến mức có thể nghe rõ tiếng tim mình đang đập thình thịch.


Thời gian trôi qua từng phút từng giây.


10 giờ, 11 giờ, rồi 12 giờ đêm.


Tôi nhìn chằm chằm vào đồng hồ điện thoại, thấy nó nhảy sang 1 giờ sáng. Vẫn không có chuyện gì xảy ra.


2 giờ sáng.


Mọi thứ vẫn im lìm.


Tôi bắt đầu thả lỏng, thầm nghĩ có lẽ tất cả chỉ là mê tín, làm gì có chuyện người chết sống lại.


Ngay lúc này, tôi chợt nghe thấy tiếng bước chân.


Tiếng động phát ra từ trong sân.


Rất nhẹ, rất chậm, từng bước một giẫm lên nền gạch tàu. Sau đó là tiếng then cửa bị gạt ra.


Là then cửa phòng tôi.


Tôi nhìn trân trân vào cánh cửa, máu trong người như đông cứng lại. Then cửa vẫn đang động đậy.


Một cái, hai cái, rồi ba cái.


“Cạch” một tiếng, then cửa rơi xuống.


Cánh cửa mở ra.


Có một người đang đứng ngoài cửa.


Là bà nội.


Bà vẫn mặc bộ áo liệm màu đỏ thẫm ấy, tóc tai gọn gàng, gương mặt mỉm cười. 


Nhưng đôi mắt bà lại trống rỗng. 


Chẳng có tròng mắt, chỉ có hai hốc đen sâu hoắm.


Bà bước về phía tôi, từng bước một, chậm rãi.


Tôi muốn chạy nhưng cơ thể không thể cử động, muốn hét lên nhưng cổ họng chẳng phát ra được tiếng nào.


Bà đi đến bên giường, đưa tay lên sờ mặt tôi. Tay bà lạnh như băng, cái lạnh lẽo của người đã khuất.


“Tiểu Viễn.” Bà gọi bằng đúng giọng của mình: “Bà về thăm cháu đây.”


Nước mắt tôi lã chã rơi.


“Bà mang bánh nếp đường đỏ cho cháu này.”


Bà lấy từ sau lưng ra một chiếc đĩa, bên trên đặt hai miếng bánh nếp. Bánh được chiên vàng hai mặt, vẫn còn bốc hơi nóng hổi.


Ăn đi, ăn lúc còn nóng.


Bà đưa miếng bánh đến bên miệng tôi. Tôi máy móc mở miệng cắn một miếng. Vừa ngọt vừa dẻo, đúng hệt hương vị ngày xưa.


“Ngon không cháu?”


Tôi gật đầu.


Bà cười, nụ cười ấy giống hệt như trong ký ức của tôi.


“Ngon là tốt rồi. Sau này năm nào bà cũng làm cho cháu ăn.”


Nói rồi, bà quay người đi ra cửa, biến mất vào màn đêm. Tôi ngồi thẫn thờ trên giường như thế rất lâu, cho đến tận lúc trời sáng.

Trước Tiếp