Thợ Săn Tội Phạm - Phương Khối Đích Lục Chích Miêu

Chương 61: Điều tra ba vụ án

Trước Tiếp

Bữa sáng vừa quá nửa, một ông lão đeo chiếc túi chéo màu xanh xám từ thập niên 90 lướt qua bàn của nhóm Giang Khởi Vân. Ông đi thẳng đến trước cửa tiệm đồ lưu niệm An Mộc Trang, khòm lưng lấy chìa khóa mở cửa cuốn.

Giang Khởi Vân nhanh chóng rút tờ khăn giấy lau miệng rồi đứng dậy: "Đi thôi."

Phương Phưởng nuốt vội miếng hoành thánh cuối cùng, lật đật đuổi theo bước chân cô: "Tới đây!"

Bốn người tiến đến trước cửa tiệm đúng lúc ông lão vừa kéo cửa lên hoàn toàn. Ông quay đầu lại, thấy bốn gương mặt lạ lẫm, tưởng là khách du lịch nên đẩy lại chiếc kính lão trên sống mũi, hỏi: "Mấy vị muốn mua đồ à?"

Giang Khởi Vân đưa thẻ ngành ra: "Cảnh sát hình sự Bắc Tân, chào ông, bọn con muốn tìm ông hỏi chút chuyện."

Nghe thấy là cảnh sát, ông lão gật đầu liên tục, đẩy cánh cửa kính trượt sang một bên, nghiêng người mời: "Mời mấy vị cảnh sát vào trong."

Giang Khởi Vân bước vào tiệm, diện tích cửa hàng không lớn, ở giữa là một dãy kệ trưng bày, hai bên tường là các giá gỗ đa năng, bày biện đủ loại sản phẩm văn hóa du lịch, mà chủ yếu trong số đó là các món đồ chế tác từ tre gỗ đặc sản.

"Thưa ông, xưng hô với ông thế nào ạ?" Phương Phưởng tùy ý cầm lên một món đồ nhỏ, vừa ước lượng sức nặng vừa hỏi.

"Ông họ Đồng, Đồng An Mộc." Ông lão trông có vẻ không thạo ăn nói và giao tiếp xã hội cho lắm.

Giang Khởi Vân khẽ vỗ vào cổ tay Phương Phưởng: "Đừng chạm lung tung."

Sau đó, cô bắt chuyện với ông lão: "Nghe nói trước đây ông chuyên làm đồ tre thủ công, mấy thứ như giỏ tre, sọt tre bán ở chợ ấy ạ. Giờ ông chuyển sang làm mấy món tinh xảo này, tay nghề của ông chắc cũng phải mấy chục năm rồi nhỉ?"

"Truyền từ đời cha ông đấy, từ nhỏ ông đã biết dùng nan tre đan cào cào, chim chóc rồi, nhưng thời đó đan mấy thứ này chẳng ai mua. Đan một chuỗi sọt tre mang ra chợ bán ít ra còn kiếm được đồng ra đồng vào, sau khi cha mất, ông tiếp quản cái nghề này luôn."

Giang Khởi Vân tỏ ra vô cùng hiếu kỳ với nghề mây tre đan, liên tục đặt ra nhiều câu hỏi chuyên môn.

Có vẻ ông lão thực sự yêu nghề, gương mặt vốn nghiêm nghị ít cười dần dãn ra và nhiệt tình hơn sau một hồi trò chuyện. Ông bắt đầu thao thao bất tuyệt kể về việc mình đã dùng cái nghề này để nuôi hai con ăn học đại học ở thành phố lớn, rồi dựng vợ gả chồng ra sao.

"Cái liệu tre này ấy à, không phải dùng loại tre thường đâu. Hồi đó trên trấn có một khu vườn cảnh quan, bên trong trồng loại tre cảnh gọi là tre lá xanh, thân của nó dẻo dai hơn tre rừng nhiều. Sau này khu vườn đó làm ăn bết bát, ông chủ bỏ bê, sẵn có chút quen biết nên ông ấy tặng luôn cả đám tre đó cho ông."

"Ông thì tất nhiên là tận dụng triệt để, đan một mẻ sọt, rổ các thứ tặng cho bà con lối xóm quen thuộc, họ dùng để hái rau, đi chợ đều tiện mà lại bền. Chớp mắt đã mấy năm rồi, lần trước còn có người tìm hỏi xem ông có đan được cái sàng không." Đồng An Mộc lắc lắc bàn tay phải: "Tay không làm được nữa rồi, già rồi, tay run lắm."

Ánh mắt của Giang Khởi Vân chợt sáng rực lên: "Nói cách khác, sau khi khu vườn đó đóng cửa, ở địa phương này không còn tre lá xanh nữa, những sản phẩm làm từ loại tre này nhất định là từ tay ông mà ra?"

Đồng An Mộc gật đầu: "Đúng thế, làm thủ công thuần túy cực lắm, giờ trên thị trường đào đâu ra, toàn là đồ nhà máy thôi."

"Ông còn nhớ lúc đó ông đã tặng cho những ai không?"

"Cái đó thì chịu, lâu quá rồi, hồi đó làm chừng 50 - 60 cái đều đem tặng hết, toàn là hàng xóm láng giềng quen mặt trên trấn và mấy thôn lân cận thôi."

Giang Khởi Vân gật đầu cảm ơn, rồi hỏi thêm: "Vậy ông có nghe qua tin đồn về người rừng ở núi Thanh Uyên không?"

Đồng An Mộc bật cười, nếp nhăn nơi khóe mắt hằn sâu: "Cảnh sát mà cũng tin cái này à? Chắc lại nghe cô vợ nhà Cảnh Mặt Rỗ kể chứ gì? Thời đại nào rồi, trong núi làm gì còn người rừng. Nếu nói mấy năm trước, người ta trốn nạn đói chạy vào núi thì có, chứ giờ thì tuyệt đối không. Với lại khu cảnh quan có đội tuần tra định kỳ, người rừng cái gì chứ, toàn chuyện nhảm nhí."

Giang Khởi Vân mỉm cười: "Ông nói phải, vậy bọn con xin phép đi trước, không làm phiền ông buôn bán nữa."

Trên đường trở về đồn cảnh sát, bước chân của Giang Khởi Vân nhẹ nhàng hơn hẳn. Chuyến đi này không hề uổng công, họ đã khai quật được một manh mối trọng đại. Nếu mảnh tre thu được tại hiện trường vụ án sau khi giám định được xác nhận là tre lá xanh, thì đây chính là điểm đột phá. Chỉ cần lần theo danh sách những người sở hữu đồ tre của ông Đồng, họ sẽ tìm ra kẻ từng xuất hiện tại hiện trường hẻo lánh đó.

Về đến đồn cảnh sát Song Hợp, Lộ Khiếu cũng đã tìm được hồ sơ vụ thiếu nữ mất tích hai năm trước và vụ bé trai ngã vực năm ngoái.

Hai xấp hồ sơ dày cộm đặt trên bàn, Giang Khởi Vân phân công: Cô, Ngu Quy Vãn và Thẩm Đông Vi xem vụ mất tích, Phương Phưởng và Lộ Khiếu xem vụ ngã vực.

Giang Khởi Vân ôm hồ sơ đến bàn làm việc cạnh cửa sổ, kéo ghế cho Ngu Quy Vãn. Thẩm Đông Vi vì không thích nắng chói nên ôm tài liệu sang bàn khác ngồi, chỉ còn lại hai người họ.

"Chị xem báo cáo vụ án, em xem biên bản hỏi cung nhé?" Giang Khởi Vân mở tập hồ sơ.

"Được."

Cả hai nhanh chóng nhập tâm vào công việc, không gian chỉ còn tiếng lật giấy sột soạt.

Đến gần trưa, Giang Khởi Vân đã nắm rõ diễn biến vụ án đầu tiên. Vụ việc xảy ra vào ngày 30 tháng 12 hai năm trước. Con gái của ông chủ tiệm cơm nhỏ Diệp Bưu là Diệp Văn Văn 12 tuổi đã mất tích trên đường đi học về.

Nhà họ Diệp ở phía Bắc trấn, còn trường học ở phía Nam, Văn Văn thường đi xe buýt đến trạm cuối rồi đi bộ một đoạn đường mòn nông thôn để về nhà, đoạn đường này không có camera, cũng không có đèn đường.

Bình thường người mẹ Thường Lệ sẽ ra đón, nhưng hôm đó bà bận chăm mẹ ốm nên bảo chồng đi. Diệp Bưu mải xem bóng đá nên gạt đi, cho rằng con gái lớn rồi, đi đoạn đường ngắn buổi tối không sao.

Thế nhưng tai họa đã ập đến, Văn Văn không bao giờ về nhà nữa. Cảnh sát xác nhận cô bé có lên xe buýt và đã xuống trạm cuối, nhưng dấu vết biến mất hoàn toàn tại đoạn đường mòn dài 1 - 2 km đó. Sau nhiều ngày điều tra và rà soát các mối quan hệ, cảnh sát vẫn không tìm thấy bất kỳ động cơ gây án rõ ràng nào từ những người xung quanh.

Cuối cùng, phía đồn cảnh sát nghiêng về giả thuyết hung thủ là kẻ phạm tội lưu động, Diệp Văn Văn hoặc là bị lừa bán, hoặc là đã bị sát hại.

Sau đó, đồn cảnh sát tiếp tục điều tra vụ mất tích này thêm một hai tháng nữa nhưng vẫn không có manh mối. Kể từ đó, lực lượng cảnh sát dần rút đi, để lại phía sau là bi kịch của một gia đình tan vỡ.

Giang Khởi Vân nhìn những dòng chữ dày đặc trên giấy, cau mày nói: "Không thể nào là kẻ phạm tội lưu động được. Tuyến đường về nhà của Diệp Văn Văn rất cố định, từ trường học đến xe buýt đều không có điều kiện để gây án. Đoạn đường nhỏ cuối cùng đó, nếu đêm hôm ấy cha mẹ cô bé đi đón thì cũng chẳng có cơ hội cho hung thủ. Thế nhưng cô bé lại mất tích đúng vào đêm duy nhất mà cha mẹ không đón, ngay tại đoạn đường không camera, không đèn đường, thậm chí không có người qua lại."

"Kẻ gây án nhất định phải là người địa phương cực kỳ thông thạo trấn Song Hợp và đây là một vụ án có dự mưu. Trước đó, hắn rất có thể đã theo dõi Diệp Văn Văn trong thời gian dài, chờ đợi đến đêm cha mẹ cô bé không đến đón để ra tay tại thời điểm và địa điểm hoàn hảo nhất."

Ngu Quy Vãn gật đầu: "Chiều nay chúng ta có thể đi khảo sát thực địa, tiện thể ghé qua nhà họ Thường xem sao."

Giang Khởi Vân ngước mắt lên, rời tầm mắt khỏi văn kiện để nhìn vào khuôn mặt của Ngu Quy Vãn. Lúc này cô mới nhận ra, Ngu Quy Vãn đã đeo lên một chiếc kính gọng mảnh nửa khung màu bạc từ lúc nào.

Một kiểu dáng kính rất bình thường, thậm chí có chút cứng nhắc, nhưng khi ngự trên đôi mắt phượng hơi xếch của Ngu Quy Vãn lại tạo nên một cảm giác thời thượng và trẻ trung lạ kỳ.

Phải thừa nhận rằng, chiếc kính vốn là một vật dụng chức năng giờ đây lại trở thành món phụ kiện thay đổi hoàn toàn khí chất của một người. Ngu Quy Vãn lúc không đeo kính và lúc đeo kính mang lại hai cảm giác hoàn toàn khác biệt.

Khi không có mắt kính che chắn, đôi mắt trong trẻo của nàng lộ rõ, khi cười lên thì khóe môi và đuôi mắt cong lại tạo nên vẻ dịu dàng, thân thiện, còn khi đeo kính, Ngu Quy Vãn trông văn nhã, thanh cao hơn hẳn. Đặc biệt là lúc nàng hơi nheo mắt tập trung đọc tài liệu, vẻ nghiêm túc ấy lại pha thêm chút lạnh lùng, cấm dục, khiến người ta cảm thấy có khoảng cách.

Giang Khởi Vân nhìn đến ngẩn người, mãi đến khi Ngu Quy Vãn khẽ hỏi "Sao thế?" Cô mới bừng tỉnh.

Cô nắm tay lại thành nắm đấm, đưa lên miệng ho khẽ hai tiếng: "Không có gì."

Trong giờ làm việc, Ngu Quy Vãn cũng không trêu chọc cô quá nhiều, chỉ khẽ kéo tay áo cô: "Mỏi mắt quá, Đội trưởng Giang giúp em nhỏ mắt với."

"Được, thuốc đâu?" Giang Khởi Vân đứng dậy, bước đến bên cạnh nàng.

"Trong túi ấy."

Lấy được lọ thuốc, Giang Khởi Vân bảo Ngu Quy Vãn ngửa đầu lên, một tay đỡ gáy nàng, tay kia nhanh chóng nhỏ thuốc vào hai mắt: "Xoay nhãn cầu lên xuống trái phải đi, đợi 30 giây rồi hãy mở mắt."

Ngu Quy Vãn làm theo, sau 30 giây mở mắt ra, đôi mắt nàng long lanh nước, như vừa được gột rửa, càng thêm phần trong vắt.

Đúng lúc Giang Khởi Vân định cất lọ thuốc vào túi thì phía sau vang lên một giọng nói bóp nghẹt, nũng nịu nổi da gà: "Đội trưởng Giang ơi~ em cũng muốn nhỏ mắt~"

Cánh tay của Giang Khởi Vân lập tức nổi một trận da gà, cô xoay người, vươn tay đẩy cái bản mặt của Lộ Khiếu ra xa, lườm nguýt: "Cậu không có tay à?"

Kỹ năng làm trò của Lộ Khiếu ngày càng thăng cấp, cậu ta bĩu môi: "Sao thế chứ, đều là đồng đội thân thương như bát nước đầy, sao chị lại phân biệt đối xử thế?"

Bầu không khí căng thẳng, bận rộn suốt cả buổi sáng bị sự tấu hài của Lộ Khiếu phá tan. Mọi người tạm buông công việc, cùng nhau lên án hành vi bôi nhọ hình tượng cảnh sát của cậu ta.

Ngu Quy Vãn nhìn những người trước mặt, trong công việc họ là những đồng nghiệp đáng tin cậy sát cánh bên nhau, còn trong cuộc sống họ lại là những người bạn dí dỏm, hài hước.

"Đội trưởng Giang, đối với đội viên phải thân thiết, ôn hòa một chút, như vậy mới giúp trung đội chúng ta xây dựng bầu không khí hòa thuận, yêu thương nhau chứ, chị là đội trưởng, phải làm gương." Ngu Quy Vãn mỉm cười nói với Giang Khởi Vân.

Giang Khởi Vân há miệng, định mắng Lộ Khiếu nhưng rồi lại nuốt lời vào trong, đáp một câu: "Biết rồi."

Chứng kiến cảnh này, Lộ Khiếu trợn tròn mắt ngạc nhiên, nhưng không dám phát biểu trước mặt Giang Khởi Vân. Chờ đến khi thu dọn xong tài liệu để cùng nhau đi ăn cơm, cậu ta mới kéo Phương Phưởng sang một bên, thì thầm: "Cậu có thấy dạo này Đội trưởng Giang nhà mình cứ như biến thành người khác không?"

Phương Phưởng xoa cằm: "Có sao?"

Lộ Khiếu vỗ vào gáy Phương Phưởng một cái: "Thế mà còn bảo không? Cậu nhìn mắt mũi kiểu gì đấy? Không thấy vừa nãy Đội trưởng Giang nghe lời cô Ngu thế nào à? Nếu là trước đây, chị ấy có chịu thế không?"

"Đội trưởng Giang nhà mình trước đây như con báo săn nanh vuốt đầy mình, ai mà áp chế nổi. Sao trước mặt cô Ngu lại biến thành con mèo nhỏ ngoan ngoãn thế nhỉ?"

Phương Phưởng nhìn Lộ Khiếu: "Rồi sao? Anh định nói gì?"

"Tôi đang nghĩ, hay là cô Ngu nắm được thóp gì của Đội trưởng Giang nên chị ấy mới phải nhường nhịn thế? Hoặc là cô ấy có bí thuật luyện thú độc môn nào đó, biết cách nắm thóp Đội trưởng Giang, cậu bảo tôi có nên sang thỉnh giáo một chút không?"

Phương Phưởng hừ hừ hai tiếng: "Bí thuật luyện thú? Anh cũng giỏi tưởng tượng thật, có giỏi thì nói thẳng trước mặt Đội trưởng Giang ấy."

Lộ Khiếu cười hắc hắc, vốn dĩ chỉ là nói đùa cho sướng miệng, nhưng vừa dứt lời, anh ta bỗng cảm thấy sau gáy lạnh toát. Một bàn tay nhẹ nhàng đặt lên vai anh ta, nhấn xuống không nặng không nhẹ.

"Bí thuật luyện thú? Thỉnh giáo? Cậu muốn huấn luyện tôi hả?"

Giọng nói lạnh lẽo của Giang Khởi Vân vang lên từ phía sau, cả người Lộ Khiếu cứng đờ, khóe miệng méo mó định quay lại bào chữa thì trên đầu đã ăn ngay một cú gõ đau điếng.

Lộ Khiếu ôm đầu ôm mông chạy mất, hét lớn: "Cô Ngu cứu mạng!"

Trước Tiếp