Chào mừng bạn đến với cộng đồng truyện lớn nhất VN - Metruyen.tv
Chào mừng bạn đến với cộng đồng truyện lớn nhất VN - Metruyen.tv
Tần Thư vừa bước vào cửa nguyệt động, đã thấy bảy tám nha hoàn hầu hạ trong phòng đều đang quỳ thành hàng ngay ngắn trên bậc thềm.
Nàng vén rèm bước vào trong, liền thấy Lục Trạch đang ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế thái sư, sắc mặt vô cùng khó coi. Hắn quát lớn một tiếng: “Quỳ xuống!”
Tần Thư còn chưa kịp phản ứng gì thì Tiểu Hồi Hương đứng bên cạnh đã sợ tới mức “bùm” một tiếng quỳ sụp xuống, vừa lạy vừa cầu xin: “Nô tỳ biết lỗi rồi, cầu xin đại nhân thứ tội.”
Trừng nương tử từ bên cạnh tiến lại, trên tay bưng một tách trà nóng, thong thả đặt xuống bên cạnh tay Lục Trạch.
Lục Trạch lạnh lùng hừ một tiếng: “Đám nô tài các ngươi, chủ tử tùy hứng không biết khuyên can, ngược lại còn hùa theo tính khí của chủ tử mà làm càn. Hôm nay những kẻ theo cô nương ra ngoài, tất cả đi lãnh mười bản tử, phạt bổng lộc ba tháng.”
Tiểu Hồi Hương không ngừng khấu đầu: “Tạ ơn đại nhân ân điển, tạ ơn đại nhân ân điển.”
Tần Thư nhất thời bị nghẹn họng, cảm thấy đến cả cổ họng cũng đau nhức. Nàng chỉ sợ lúc này mình mở miệng cầu xin thì trái lại sẽ càng làm liên lụy đến bọn Tiểu Hồi Hương, khiến Lục Trạch xử phạt nặng hơn.
Nàng đứng sững ở đó, bỗng thấy Trừng nương tử mỉm cười tiến lại gần: “Cô nương, Gia cũng là vì tốt cho người thôi. Bây giờ bên ngoài trời lạnh, người lại còn lên tận trên núi, chẳng may sơ sẩy một chút, chuyện xe ngựa lăn xuống núi cũng thường xảy ra lắm. Đó là còn chưa kể không biết lúc nào lại có đám giặc Oa đổ bộ rồi trà trộn vào đâu…”
Tần Thư biết rõ vào lúc này mình nên quỳ xuống nhận lỗi, nhưng cả người nàng cứng đờ, thực sự không thể nào quỳ xuống nổi.
Nàng ngẩng đầu, nhìn thấy gương mặt Trừng nương tử đang nở nụ cười dịu dàng, còn Lục Trạch vẫn ngồi nguyên tại đó đợi nàng nhận lỗi. Nàng chẳng buồn đếm xỉa đến, cứ thế vòng qua bức bình phong “Tứ quý sơn thủy” ngăn cách căn phòng, vén rèm châu lên rồi đi thẳng vào trong phòng ngủ.
Lục Trạch nhất thời rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan, mặt đen lại, nghiến răng thốt ra mấy chữ: “Thật là phản rồi.”
Trừng nương tử bèn khuyên can: “Đại nhân, cô nương còn nhỏ tuổi, tính tình lại kiêu ngạo, ngài đừng chấp nhặt với cô nương làm gì.”
Lục Trạch xua tay, ra hiệu cho nàng ta lui xuống, nhưng lại gọi giật lại: “Ngươi quản lý việc vặt trong phủ Tổng đốc cũng chẳng dễ dàng gì. Nha đầu này còn ít tuổi, tính tình lại không tốt, sau này ngươi không cần tới đây nữa, tránh để ngày nào đó nàng ấy sinh sự, ngươi lại không thể không tới đây nhận lỗi như ngày hôm nay.”
Trừng nương tử nghe xong mà sắc mặt trở nên trắng bệch, rồi ngẩn người nhìn Lục Tế. Nàng ta thừa hiểu đây là vì hắn nể tình chủ tớ nhiều năm nên mới để lại cho mình chút thể diện. Nàng ta cố rặn ra một nụ cười còn khó coi hơn cả khóc, không kìm được mà nói giọng chua chát: “Đại nhân thương yêu cô nương như vậy, đúng là phúc phận của cô nương.”
Lục Trạch day day thái dương: “Nàng ấy mà biết đó là phúc phận thì đã tốt.” Hắn ngồi một lát rồi đứng dậy đi vào phòng trong, thấy nàng đang bó gối ngồi trên sập, tay ôm một hộp bánh điểm tâm, loay hoay chọn tới chọn lui. Nhìn thấy hắn đi vào, nàng cũng coi như không thấy.
Lục Trạch bèn lên tiếng: “Nàng mà cũng biết giận cơ à? Tiết trời này còn chạy ra ngoài, hơn nửa ngày trời chẳng thấy bóng dáng đâu, làm ta phải phái người đi khắp trong thành tìm nàng đấy.”
Tần Thư ăn mấy miếng bánh quế hoa, lúc này dạ dày mới thấy dễ chịu đôi chút. Nàng nhìn thẳng vào mắt Lục Trạch: “Ngài chẳng phải vì bên ngoài trời lạnh, hay vì bên ngoài có thể có giặc Oa lưu lạc mà không cho ta ra ngoài. Chẳng qua là vì chính ngài đã phải đợi hơn nửa ngày trời, thế nên mới nổi giận. Trong mắt ngài, ta cũng chỉ là một thứ đồ chơi mà thôi, chỉ có chuyện ta ngày ngày chờ đợi để hầu hạ ngài, chứ làm gì có đạo lý ngài phải đợi ta.”
Lời này quả thực khiến Lục Trạch tức đến nghẹn họng, hắn chỉ tay vào Tần Thư nói: “Đúng là kiến thức đàn bà, không, là bụng dạ tiểu nhân.”
Tần Thư ngoảnh mặt đi chỗ khác, chỉ lạnh lùng nói: “Tôn ty khác biệt, quý tiện khác biệt, nam nữ khác biệt, tất cả đều rạch ròi như nước sông Kinh sông Vị vậy. Ta hiểu ý của ngài rồi, thưa Tổng đốc đại nhân.”
Lục Trạch cảm thấy tiểu nữ tử này thật là mồm mép sắc sảo, nếu nàng đã muốn làm ngươi nghẹn họng thì tuyệt đối ngươi không thể thốt ra nổi dù chỉ một lời. Hắn nén giận nửa ngày, trong lòng hiểu rõ nếu lúc này không thuận theo nàng một chút, chẳng biết lúc nào nàng lại nảy ra ý định muốn bỏ trốn. Hắn thở dài một tiếng, đưa tay v**t v* bờ vai gầy của Tần Thư rồi nói: “Được rồi, chẳng qua chỉ là một chuyện nhỏ, sao lại cứ phải lôi chuyện tôn ty quý tiện vào làm gì, rồi lại nói mấy lời đồ chơi này đồ chơi nọ nữa?”
Tần Thư cũng đành thuận theo bậc thang mà xuống: “Nếu đã là một chuyện nhỏ, vậy thì trận đòn bản tử kia có thể miễn đi được không?”
Lục Trạch đứng nguyên tại đó, cũng không nói là không đồng ý. Tần Thư bèn coi như hắn đã chấp thuận, nàng vén rèm bước ra ngoài cửa, rồi dặn dò người bên ngoài: “Gia nói rồi, không cần đánh bản tử nữa.”
Tiểu Hồi Hương cũng rất thông minh, cô ấy cứ đứng đợi ngay ở cửa, vốn cũng chẳng có ai cưỡng ép lôi đi chịu phạt, thế nên một roi cũng chưa phải nếm. Vừa thấy nàng, cô ấy liền cười híp mắt: “Cô nương đói rồi phải không, để em xuống bếp bưng cơm canh lên nhé.”
Tần Thư bước vào trong phòng, liền thấy Lục Trạch đang mài mực bên bàn viết, hắn gọi nàng: “Lại đây, viết vài chữ cho ta xem nào.”
Tần Thư chẳng rõ hắn muốn làm gì, lại chợt nhớ tới chuyện hoang đường trong thư phòng ở trang viên suối nước nóng ngày hôm ấy, không khỏi nảy sinh lòng đề phòng. Nàng khẽ vén tay áo, cầm bút lên viết ngay bốn chữ mình vừa nhìn thấy lúc ban ngày: “Vạn Thế Lưu Phương”.
Tần Thư vốn chưa từng luyện viết chữ bằng bút lông, ngay cả khi đã xuyên về thời cổ đại thì cũng chỉ miễn cưỡng coi là biết chữ mà thôi. Cách cầm bút hay vận bút thì nàng đều hoàn toàn không hiểu, động tác trông vô cùng vụng về.
Lục Tế nhìn thấy nét chữ của nàng liền nhíu mày, hắn cầm bừa một cuốn sách bên cạnh, rồi đọc lên một câu: “Phá sơn trung tặc dị, phá tâm trung tặc nan. Khu khu tiễn trừ thử thiết, hà túc vi dị. Nhược chư hiền tảo đãng tâm phúc chi khấu, dĩ thu khuếch thanh chi công lao. Câu này hiểu thế nào?”
Giọng điệu đó của Lục Trạch khiến Tần Thư có cảm giác như mình đang quay trở lại lớp Ngữ văn thời cấp ba. Thầy giáo Ngữ văn là một chàng trai trẻ tuổi bị hói đầu, lúc giảng giải văn cổ rất thích chọn ngẫu nhiên một người đứng dậy, yêu cầu người đó phải giải nghĩa.
Tần Thư bị thầy giáo gọi đứng dậy, cứ ngắc ngứ mãi nửa ngày mà chẳng thốt nên lời. Điều đó khiến thầy giáo phải thở dài: “Tần Thư, em học lệch thế này, sau này chỉ có nước sang trường Nhân dân bên cạnh mà học thôi”
Lúc ấy Tần Thư chỉ biết thầm thở dài: Thầy ơi, nếu mà biết trước có ngày em xuyên về cổ đại thế này, em nhất định sẽ học văn cổ thật tử tế.
Lục Trạch cười khẽ một tiếng: “Trời tuyết lớn thế này mà cũng đòi lên núi nghe giảng học, đến cả cách ngắt câu giải nghĩa cũng không thông, xem ra cũng chỉ là ‘Diệp Công thích rồng’ * mà thôi.” Nói rồi, hắn nắm lấy tay Tần Thư, dẫn dắt nàng viết chữ trên tờ giấy tuyên: “Cầm bút phải lỏng chứ không được chặt, khi hạ bút phải chú trọng giấu ngòi…”
(*: Một thành ngữ chỉ những người ngoài miệng thì nói là yêu thích một thứ gì đó, nhưng thực chất không hề hiểu)
Tần Thư chẳng rõ hắn lại nổi hứng gì, có điều nàng đi nghe giảng học vốn không phải để học mấy thứ “chi, hồ, giả, dã” cổ văn kia. Nàng nói: “Những điều Ôn Lăng tiên sinh giảng hoàn toàn không giống với các ngài. Sách của ông ấy nói nam tử hay nữ tử đều như nhau, chẳng có gì khác biệt cả, còn nói nếu có người phụ nữ giỏi thì đã có thể gây dựng gia đình, chẳng cần đến đàn ông.”
“Lại còn nói Sĩ, Nông, Công, Thương đều như nhau, không phân biệt cao thấp quý tiện…”
Tần Thư càng nói thì sắc mặt của Lục Trạch càng tối sầm lại, hắn cắt ngang: “Mấy thứ tà thuyết dị đoan của hạng người đó, nghe cho biết cái mới lạ thì thôi, chứ nếu nghe nhiều quá đến mức làm thay đổi bản tính thì người chịu khổ sau này chính là bản thân nàng đấy.”
Hắn vẫn tiếp tục lải nhải không thôi: “Quân thần, phụ tử, phu phụ, ba thứ đó chính là cương kỷ lớn của thiên hạ. Ai ở vị trí nấy, ai yên phận nấy, đó mới là chính đạo.”
Trong lòng Tần Thư thầm lắc đầu, đúng là một vị sĩ đại phu phong kiến điển hình của hệ tư tưởng Tam cương Ngũ thường. Nàng quay đầu lại vặn hỏi: “Nếu như lời Gia nói, ngài còn chưa cưới chính thê, mà nay đã có ý định để ta sinh con dòng thứ, chẳng phải cũng là làm loạn luân thường đạo lý đó sao?”
Lục Trạch cười cười: “Chuyện này thì loạn luân thường cái gì, cho dù là con trai trưởng dòng thứ thì đã làm sao?”
Tần Thư tự nhiên hiểu rõ ẩn ý trong lời của hắn, ý là cho dù có là con trai trưởng dòng thứ thì cũng chẳng thể vượt mặt con dòng đích được, tước vị hay gia sản đương nhiên đều ưu tiên cho con dòng đích. Nàng nhất thời bình tĩnh lại, cân nhắc lời lẽ rồi nói: “Việc nghe Ôn Lăng tiên sinh giảng học, chẳng qua là vì ta ở mãi trong tiểu trạch thấy bức bối quá, muốn đi nghe cho vui thôi, chứ hôm nay ta cũng chẳng gặp được Ôn Lăng tiên sinh. Nghe nói ngày giảng học đó người đông như kiến, còn náo nhiệt hơn cả hội chùa cơ.”
Lục Trạch suy nghĩ một lát rồi bảo: “Nếu thấy bức bối thì ra ngoài dạo chơi, hoặc gửi thiếp mời nữ quyến các phủ khác tới trò chuyện, mấy chuyện này đều tốt cả. Duy chỉ có việc đi nghe gã điên cuồng hỗn xược kia nói nhảm là hoàn toàn không cần thiết.”
Tần Thư nhìn thần sắc của hắn, biết là không thể thương lượng gì thêm, thấy vậy đành phải chấp thuận: “Ta biết rồi.”
Đúng lúc này, Tiểu Hồi Hương ở bên ngoài bẩm báo: “Đại nhân, bên ngoài có chưởng quầy của Nhật Xương Long đến xin gặp để thưa chuyện.”
Lục Trạch quay đầu lại: “Đến đúng lúc lắm, nàng ở sau bức bình phong cũng nghe một chút đi.” Nói rồi hắn bước ra ngoài, phân phó: “Mời vào.”
Tần Thư ngồi sau bức bình phong, xuyên qua lớp vải lụa vẽ thủy mặc mờ ảo, nàng nhìn thấy một vị chưởng quầy ngoài năm mươi tuổi, mặc áo khoác lót lông màu xám, khom người cúi đầu đi vào. Ông ta hành lễ, rồi quỳ sụp xuống: “Mãn Quế khấu kiến Thế tử.”
Lục Trạch “ừm” một tiếng, rồi bảo: “Ngồi đi.”
Vị chưởng quầy kia cũng không dám ngồi cả mông, chỉ dám đặt nhẹ một nửa bên mông lên ghế: “Tạ Thế tử.”
Lục Trạch bưng chén trà, gạt lớp bọt nổi trên mặt rồi nhấp một ngụm, bấy giờ mới nói: “Nửa đầu năm nay ngươi có viết thư gửi tới kinh thành, bảo là gặp khó khăn.”
Vị chưởng quầy kia nghe thấy lời này, lập tức đứng bật dậy: “Bẩm Thế tử, tiểu nhân nào dám nói những lời như vậy với ngài. Thế tử cũng biết đấy, các phiếu hiệu trong thiên hạ hiện nay lớn nhất chính là Nhật Xương Long của chúng ta và phiếu hiệu Đại Thông. Nay Thế tử đến Giang Nam nhậm chức, những khó khăn ở Giang Nam đương nhiên sẽ được giải quyết dễ dàng, thế nhưng ở phương Bắc vốn lấy hiệu phiếu Đại Thông làm đầu, chúng ta thực sự không thể chen chân vào được ạ.”
(Hiệu phiếu: Một dạng ngân hàng sơ khai thời phong kiến, chuyên kinh doanh dịch vụ hối đoái, nhận ký gửi và cho vay.)
Thấy sắc mặt của Lục Trạch vẫn còn tốt, vị chưởng quầy mới dám tiếp tục: “Trong kim kho hiện đang tích trữ vàng bạc chất cao như núi, mà nay Thế tử lại vừa đến Giang Nam nhậm chức. Đám cộng sự già chúng tôi đã bàn bạc với nhau, thay vì đem số tiền này cho người khác vay để thu về chút tiền lãi chẳng đáng là bao, thì chi bằng tự chúng ta đứng ra gây dựng cái sạp giao thương đường biển này. Chỉ có điều đây là việc lớn, nên không dám không qua đây để xin ý kiến chỉ thị của Thế tử.”
Lục Trạch nghe xong, thì lập tức cười mắng: “Tin tức của các ngươi cũng nhanh nhẹn đấy chứ!”
Vị chưởng quầy kia cười cười: “Thế tử lo toan đều là chuyện đại sự kháng Oa của triều đình, đám người già chúng tôi chẳng giúp được gì, cũng chỉ biết lưu tâm thêm chút về những đạo kinh doanh buôn bán này mà thôi.”
Tần Thư ngồi bên trong nghe mà lấy làm thắc mắc. Phiếu hiệu thì nàng có biết, chỉ là phiếu hiệu thời này nghiệp vụ còn đơn giản, phần lớn là phục vụ cho thương chấn. Do việc vận chuyển bạc khối với số lượng lớn gặp nhiều bất tiện, vốn lưu động lại quá cao, nên mới thúc đẩy sự ra đời của các phiếu hiệu vào lúc này.
Loại phiếu hiệu này hoàn toàn khác biệt so với ngân hàng hiện đại. Bạn gửi tiền vào phiếu hiệu không những không được hưởng lãi suất, mà còn phải trả thêm phí bảo quản. Đối với thương nhân nhỏ và bách tính bình thường thì họ vô cùng kiêu ngạo, thậm chí còn quy định dưới một trăm lượng bạc thì nhất quyết không làm thủ tục hối đoái, chỉ phục vụ các thương gia lớn.
Hồi năm ba đại học, Tần Thư từng có thời gian thực tập tại một ngân hàng. Cô đã làm việc ở sảnh suốt ba tháng và phải chịu đựng không ít “tra tấn”, may mà sau đó được xét tuyển thẳng lên cao học, nên lại tiếp tục con đường đèn sách.
Nàng nghe vị chưởng quầy kia nói chuyện với Lục Trạch bằng thái độ vô cùng cung kính, dường như coi hắn là bậc tôn chủ duy nhất, bèn thầm nghĩ: Hèn chi lúc trước lấy ra năm nghìn lượng bạc mà mắt hắn cũng chẳng thèm chớp lấy một cái.
Lục Trạch nói: “Ba nơi Tuyên Châu, Tô Châu và Ninh Ba đều sắp mở cửa biển để thông thương rồi. Nội các đã ban hành công văn, đợi tin tức đàm phán trên biển truyền về, chậm nhất là mùa xuân sang năm sẽ bắt đầu thành lập Thị bạc ty.”
(Thị bạc ty: Đây là cơ quan nhà nước chuyên quản lý ngoại thương đường biển thời cổ đại, tương đương với Tổng cục Hải quan và Cục Thuế xuất nhập khẩu ngày nay.)
Vị chưởng quầy nhận được tin tức xác thực, quả nhiên trở nên phấn chấn: “Có được lời khẳng định này của Thế tử, thì đám người già chúng tôi yên tâm rồi.”
Nói xong, ông ta móc từ trong ống tay áo ra một tập hồ sơ: “Đây là phần cổ phần ưu đãi mà lần trước Thế tử đã sai người dặn dò tiểu nhân chuẩn bị. Tuy chỉ là một tiệm đồ cổ, nhưng ba phần cổ phần này mỗi năm cũng thu về cả vạn lượng bạc. Trên đây đã đóng dấu sẵn sàng cả rồi, Thế tử chỉ cần điền tên người đó vào là xong.”
Lục Trạch “ừm” một tiếng: “Các ngươi muốn làm hải mậu, ta cũng không phải là không cho phép. Cứ bàn bạc với nhau đi, rồi đưa ra một bản đề án cụ thể.”
Ai ngờ vị chưởng quầy kia đã chuẩn bị xong xuôi từ trước, ông ta lấy từ trong ống tay áo ra một bản đề án có kích thước bằng một cuốn sớ tấu quân cơ, cười híp mắt nói: “Không dám giấu gì Thế tử, tiểu nhân đã viết xong cả rồi đây ạ.”
Lục Trạch mở bản đề án kia ra, nó dài dằng dặc, chữ viết vừa nhỏ vừa dày đặc. Hắn xem chăm chú suốt một khắc đồng hồ, rồi mới lên tiếng: “Cứ theo những gì các ngươi nói mà làm. Tuy nhiên, ta có một lời này: phải kiểm soát cho thật kỹ, nếu để xảy ra sai sót gì, dù có cầu xin đến chỗ ta đây thì cũng vô ích thôi.”
Vị chưởng quầy vốn luôn giữ vẻ mặt trung hậu thành thật, đến lúc này mới để lộ ra vài phần tinh ranh: “Thế tử yên tâm, trên thương trường Giang Nam này, đám người già chúng tôi chưa từng thất thủ bao giờ.”
Lục Trạch đậy nắp chén trà, đặt lên bàn rồi nói: “Trời hôm nay lạnh, ta không giữ ông ở lại lâu nữa.”
Vị lão chưởng quầy kia liền hiểu ý: “Tiểu nhân xin cáo lui.” Ông ta khom người, vén rèm rồi lui ra ngoài.
Tần Thư ngồi đó, nghe mà đoạn hiểu đoạn không. Nàng thấy trên tay Lục Trạch cầm một tờ giấy, hắn đi tới bàn viết rồi gọi nàng: “Lại đây.”
Tần Thư đành phải đứng dậy, để mặc hắn nắm lấy tay mình, đưa bút thấm mực, rồi chậm rãi viết lên khoảng trống trên tờ giấy kia ba chữ: Đổng Bằng Nhi. Sau đó, hắn lại giữ lấy ngón tay cái của nàng thấm vào chu sa, rồi ấn dấu tay lên đó.
Tần Thư có chút ngẩn ngơ đứng đó, nàng hỏi: “Phần cổ phần ưu đãi này là cho ta sao?”
Đầu ngón tay của Lục Trạch vẫn còn dính chút chu sa đỏ thắm, hắn đưa tay điểm nhẹ lên trán Tần Thư, trông tựa như một đóa hoa mai đang nở rộ, rồi cười nói: “Không cho nàng thì còn có thể cho ai được nữa? Chẳng phải vì ngày thường nàng cứ luôn miệng bảo mình không có chỗ dựa, sợ sau này bị ta ruồng bỏ thì sẽ chẳng có kết cục tốt đẹp hay sao?”
Đó chẳng qua chỉ là cái cớ mà thôi, Tần Thư thầm nghĩ trong lòng. Lại nghe hắn nói tiếp: “Ta đã trả lại khế ước bán thân cho nàng, hiện giờ nàng là người tự do. Nay cho nàng một phần sản nghiệp để phòng thân, đợi sau này nạp nàng vào phủ rồi, thì nàng còn gì phải sợ hãi nữa đây?”
Nạp thiếp? Quả nhiên lại nhắc lại chuyện vào phủ. Tần Thư bị hắn hỏi đến á khẩu, nàng chậm rãi quay đầu đi, nhìn đăm đăm vào cành mai thưa thớt ngoài cửa sổ mà ngẩn ngơ.
Lục Trạch ghét nhất là thấy bộ dạng nhíu mày u sầu này của nàng. Hắn bóp lấy cằm rồ cưỡng ép nàng phải quay mặt lại, nén cơn giận mà hỏi: “Nàng còn có điểm nào chưa hài lòng nữa?”
Tần Thư nghiêm túc suy nghĩ một hồi, bản thân nàng thật ra không phải kiểu người không thể thích nghi với cuộc sống cổ đại, chỉ là bảo nàng giống như những người phụ nữ thời này, chung chồng với vài người đàn bà khác, thì đó là việc nàng vạn lần không thể làm được. Hơn nữa, cái kiểu sĩ đại phu phong kiến như Lục Trạch, mở miệng ra là đạo đức, khép miệng lại là văn chương, từ trên xuống dưới đều toát ra cái hơi hướng trọng nam khinh nữ, coi thường phụ nữ, sống chung với hắn thực sự là một loại dày vò.
Tần Thư cảm thấy cứ nói thật lòng thì hơn: “Ừm, ngày trước khi ta còn ở trong phủ, chuyện các vị chủ tử nạp thiếp cũng là lẽ thường tình. Sáng tối thỉnh an, đứng hầu hạ hay phải tuân theo gia quy là chuyện cơm bữa. Con cái sinh ra, số tốt thì được tự mình nuôi nấng, nếu như bị chủ mẫu bế đi nuôi thì chẳng những không được oán thán mà còn phải mang ơn đội đức. Đến lễ Tết gặp lại tiểu thư và thiếu gia do chính mình sinh ra, cũng không được phép xưng là mẹ ruột, ngược lại còn phải hành lễ với chính con của mình.”
Nàng quay đầu lại, trong ánh mắt là sự vô cùng tỉnh táo: “Đại thiếu gia nói mình yêu thương ta, đặt ta ở trong tim, chẳng lẽ ngài muốn ta phải sống những ngày tháng như thế này sao?”
Lục Trạch hỏi: “Nàng vẫn không cam lòng sao?”
Tần Thư cười cười: “Không phải là vẫn không cam lòng, mà là vốn dĩ chưa từng cam lòng. Con người ta, điều sợ nhất trên đời này chính là bị kẻ khác coi thường. Thân phận của ta thấp kém, lại là hạng nữ nhi vô tri, nên đại thiếu gia mới xem nhẹ ta, tương lai khi ngài cưới chính thê, trong mắt người đó thì ta cũng chỉ là món đồ chơi làm ấm giường để thỏa mãn d*c v*ng, nên đương nhiên cũng sẽ khinh bỉ ta, ngay cả con cái ta sinh ra cũng chẳng thể gọi ta một tiếng mẹ, đó lại là thêm một tầng coi thường nữa. Nếu ta làm thiếp cho ngài, thì tất cả những sự khinh thường ấy, ta đều phải ngậm đắng nuốt cay mà nhận lấy hết sao.”
Nàng quay đầu đi, hốc mắt đã hơi cay xè, nở nụ cười khổ: “Đại thiếu gia nói yêu thương ta, chẳng lẽ bắt một người phải sống trong tủi nhục, lại chính là sự yêu thương trong miệng ngài hay sao?”
Lục Trạch siết chặt nắm đấm, hắn gặng hỏi: “Vào phủ của ta làm thiếp, lại khiến nàng cảm thấy tủi nhục đến thế sao?”
Tần Thư lùi lại một bước: “Có lẽ đại thiếu gia không hề có tâm ý làm nhục ta, nhưng thực tế ngài lại đang đẩy ta vào chốn tủi nhục. Ta đã nói rồi, thà rằng gả cho kẻ bình dân áo vải, hay thậm chí là cả đời không lấy chồng, thì ta cũng quyết không làm tiểu thiếp cho kẻ khác.”
Những ngày qua chung sống vô cùng êm đẹp, lại thấy nàng ngày càng nhu thuận, ai ngờ đâu nàng không những chẳng hề hồi tâm chuyển ý, mà trái lại còn ngày càng quyết liệt hơn.
Lục Trạch bị nàng chọc giận đến mức cổ tay run rẩy, hắn gạt phăng nghiên mực và bút lông trên bàn sách xuống đất, rồi gằn ra hai chữ: “Láo xược!”
Tần Thư nhìn gương mặt đang bừng bừng thịnh nộ của hắn, đột nhiên chẳng còn chút h*m m**n giãi bày nào nữa. Bởi lẽ dù nàng có nói bao nhiêu đi chăng nữa, thì hắn cũng chẳng thể lọt tai lấy một chữ. Nàng chợt tỉnh ngộ, trong hoàn cảnh nào thì người ta lại đi “đàn gảy tai trâu” cơ chứ?
Có lẽ là do vẫn còn một chút mong chờ chăng? Mong chờ Lục Trạch sẽ có lúc lương tâm trỗi dậy sao?
Có lẽ trong mắt Lục Trạch, một nữ tử xuất thân hàn vi như Tần Thư và hắn thuộc về hai thế giới khác biệt. Cũng giống như khi Tần Thư ngắm nhìn đàn cá chép bơi lội dưới ao, nàng chỉ thưởng thức vẻ ngoài rực rỡ của chúng, chứ chẳng bao giờ có thể hiểu được nội dung ẩn sau những bong bóng nước mà chúng nhả ra.
Điều bi kịch là ở chỗ, Tần Thư và Lục Trạch tuy có lẽ đang nói cùng một ngôn ngữ, nhưng thực sự họ lại là người của hai thế giới khác nhau, vĩnh viễn không cách nào thấu hiểu đối phương được.