Hôn Phu Tuần Phủ Của “Tai Tinh”

Chương 9

Trước Tiếp

"Đại nhân," Ta quỳ xuống, "Dân nữ biết ngài vâng mệnh triều đình, có nỗi khó xử riêng. Thế nhưng trăm họ Giang Nam cũng có cái khó của họ. Đại hạn ba năm, nhà tan cửa nát. Đào kênh là con đường sống duy nhất, nếu con đường này bị chặt đứt, Giang Nam thực sự sẽ tiêu tùng."

Ta ngẩng đầu nhìn lão: "Ngài cũng là người đèn sách, hẳn phải hiểu đạo lý 'Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh*'. Giờ đây dân sắp chết đến nơi, xã tắc nghiêng ngả, ngài còn muốn câu nệ vào những quy tắc đó sao?"

(*) Dân là quý nhất, đất nước đứng thứ hai, vua là nhẹ nhất.

Hồ Khâm sai im lặng.

Trên đại đường yên tĩnh đến đáng sợ.

Hồi lâu sau, lão mới thở dài một tiếng.

"Công trình... có thể tiếp tục." Lão nói, "Nhưng Thẩm Tịch, ngươi phải theo bản quan về kinh một chuyến, đích thân giải thích với Hoàng thượng."

Thẩm Tịch gật đầu: "Hạ quan tuân mệnh."

"Có điều," Hồ Khâm sai nhìn về phía ta, "Trước khi Thẩm Tịch quay lại thì công trình này do ai phụ trách?"

Tất cả mọi người đều đổ dồn ánh mắt về phía ta.

Ta ưỡn thẳng lưng: "Dân nữ phụ trách."

Hồ Khâm sai nhướn mày: "Ngươi chỉ là phận nữ nhi..."

"Nữ nhi thì đã sao?" Ta ngắt lời lão, "Nữ nhi cũng có thể đào kênh, cũng có thể trị thủy, cũng có thể cứu dân khỏi cảnh dầu sôi lửa bỏng."

Hồ Khâm sai nhìn ta thật lâu, chợt nở nụ cười.

"Được. Bản quan cũng muốn xem thử ngươi có thể làm đến mức nào." Lão đứng dậy, "Thẩm Tịch, cho ngươi ba ngày để bàn giao công việc. Ba ngày sau khởi hành cùng bản quan."

Lão rời đi.

Trong đại đường, ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm.

Thẩm Tịch đỡ ta dậy, nói khẽ: "Cảm ơn nàng."

"Tạ ơn gì chứ." Ta nhìn chàng, "Ngài mới là người đáng được cảm tạ."

Chàng cười, nụ cười vô cùng dịu dàng.

"Lúc ta không có ở đây, nàng phải cẩn thận. Lưu Dung sẽ không chịu bỏ qua đâu."

"Ta biết." Ta nói, "Ngài cũng phải bảo trọng. Kinh thành... còn nguy hiểm hơn cả Giang Nam."

"Yên tâm đi." Chàng nắm lấy tay ta, "Ta sẽ sớm quay về."

Tay chàng rất ấm.

Tim ta đập loạn nhịp.

Thẩm Tịch đi rồi.

Công trường không thể dừng lại.

Ta cho thợ chia ba ca, ngày đêm đốc thúc công việc. Con kênh nhánh thứ ba cũng là đoạn khó khăn nhất, phải xuyên qua một vùng đồi núi, khối lượng công việc khổng lồ, yêu cầu kỹ thuật lại cao.

Lão Triệu dẫn người, nhích từng tấc một về phía trước.

Ta ăn ngủ ngay tại công trường, mỗi ngày chỉ chợp mắt được hai canh giờ. Mắt đỏ hoe vì thiếu ngủ, tay chai sần thêm những vết mới nhưng ngọn lửa trong lòng ta lại càng cháy rực hơn.

Ngày thứ bảy, đoạn đồi núi gặp phải vấn đề khó.

Một đoạn đường hầm dài mười trượng, đang đào dở thì đột nhiên sạt lở. Ba người thợ bị vùi lấp, tuy được cứu ra kịp thời nhưng đều bị thương.

Trên công trường, lòng người hoang mang.

"Cái núi này quái đản quá, không đào tiếp được đâu!"

"Cứ đào nữa là có mạng người đấy!"

Ta đứng ở nơi sạt lở, nhìn đống đá vụn.

"Không phải núi quái đản." Ta nói, "Là phương pháp đào của chúng ta chưa đúng."

Lão Triệu bước tới: "Hòa nha đầu à, núi này là núi đất cát, kết cấu lỏng lẻo. Cứ đào theo cách thông thường thì đúng là dễ sập thật."

"Vậy thì không theo lệ thường nữa." Ta ngồi xổm xuống, bốc một nắm đất, "Chúng ta đổi cách nghĩ đi. Không đào hầm nữa mà sửa thành kênh lộ thiên."

"Kênh lộ thiên sao?" Lão Triệu ngẩn người, "Nhưng núi có độ dốc, đào kênh lộ thiên thì nước có chảy ngược lên được không?"

"Không phải chảy lên, mà là đi vòng qua." Ta chỉ sang phía bên kia sườn núi, "Chỗ đó có một thung lũng tự nhiên, địa thế thấp. Chúng ta có thể dẫn kênh vào trong thung lũng, sau đó đặt một chiếc guồng nước để đưa nước lên cao."

Guồng nước?

Đám thợ nhìn nhau ngơ ngác.

"Làm guồng nước cần gỗ, cần thợ, lại cần cả thời gian..."

"Chúng ta có thời gian." Ta nói, "Trước khi đi, Thẩm đại nhân đã để lại cho ta một khoản tiền, đủ để đóng mười chiếc guồng nước. Thợ thì có thể mời thợ mộc trong thành. Còn gỗ thì trên núi thiếu gì."

Nói là làm.

Ta đích thân lên núi chọn gỗ, tìm loại gỗ sam tốt nhất. Thợ mộc được mời tới là Lỗ sư phụ nức tiếng trong thành, nghe bảo đóng guồng nước cứu dân, ông ấy chỉ lấy một nửa tiền công.

"Đây là việc tích đức, ta không thể lấy nhiều."

Guồng nước được đóng rất nhanh. Chỉ ba ngày, chiếc guồng đầu tiên đã được dựng lên.

Ngày chạy thử, mọi người đều vây quanh miệng thung lũng.

Ta vừa hạ lệnh, chiếc guồng bắt đầu quay. Trong tiếng cọt kẹt, nước sông được nâng lên từng gàu, chảy vào trong kênh.

"Thành công rồi! Thành công rồi!"

Đám thợ hò reo.

Lão Triệu quẹt nước mắt: "Hòa nha đầu à, cha cháu mà nhìn thấy cảnh này hẳn là sẽ vui lắm..."

Ta cũng khóc.

Cha ơi, cha có nhìn thấy không?

Con gái cha không làm cha phải hổ thẹn.

Sau khi guồng nước thành công, tiến độ công trình tăng lên rõ rệt. Đến ngày thứ mười, con kênh nhánh thứ ba đã hoàn toàn thông suốt.

Ba con kênh nhánh tựa như ba huyết mạch, dẫn nước từ sông ngầm tưới cho vùng đất khô cằn. Nước chảy đến đâu, ruộng đồng sống lại đến đó, cỏ cây đâm chồi nảy lộc.

Trăm họ nô nức báo tin cho nhau:

"Nước về rồi! Thực sự về rồi!"

"Hoa màu được cứu rồi!"

"Lâm cô nương đúng là Bồ Tát sống mà!"

Ta đứng bên bờ kênh, nhìn dòng nước chảy róc rách mà lòng chẳng mấy vui mừng.

Thẩm Tịch đi đã nửa tháng, không có lấy một chút tin tức.

Rốt cuộc kinh thành đã xảy ra chuyện gì rồi?

Lý Trung an ủi ta: "Cô nương đừng lo, đại nhân là người tốt tất có trời phù hộ."

Ta gật đầu, nhưng nỗi bất an trong lòng càng lúc càng lớn.

Quả nhiên, ngày hôm sau tin dữ ập đến.

Một đội quan binh xông vào công trường, viên tướng dẫn đầu giơ cao lệnh bài: "Tuân lệnh Bố chính sứ Lưu đại nhân, niêm phong toàn bộ công trình! Tất cả mọi người lập tức giải tán!"

Ta tiến lên: "Thưa Tướng quân, công trình này do triều đình phê chuẩn, Khâm sai đại nhân cũng đã đồng ý tiếp tục."

"Khâm sai sao?" Viên tướng cười lạnh, "Hồ Khâm sai đã về kinh rồi. Bây giờ ở Giang Nam, Lưu đại nhân mới là người quyết định!"

"Vậy còn Thẩm đại nhân?"

"Thẩm Tịch?" Viên tướng hừ một tiếng, "Hắn kháng chỉ bất tuân, đã bị bãi chức tống giam rồi!"

Tin ấy như sét đánh ngang tai.

Chân ta nhũn ra, suýt chút nữa ngã quỵ.

Lý Trung đỡ lấy ta: "Cô nương!"

"Không thể nào..." Giọng ta run rẩy, "Thẩm đại nhân sẽ không..."

"Có gì mà không thể?" Viên tướng mất kiên nhẫn, "Mau giải tán đi! Bằng không, đừng trách bản Tướng quân không khách sáo!"

Đám thợ vây quanh, ai nấy đều phẫn nộ:

"Bọn ta không thể giải tán!"

"Giải tán rồi thì công trình bỏ dở, nước sẽ đứt đoạn!"

"Phải! Không thể giải tán!"

Viên tướng tuốt đao: "Muốn tạo phản sao?!"

Thấy xung đột sắp bùng nổ, ta đột nhiên hét lớn: "Tất cả dừng tay!"

Tất cả mọi người đều nhìn ta.

Ta hít sâu một hơi, bước đến trước mặt viên tướng: "Tướng quân, công trình có thể dừng. Nhưng ngài có thể cho ta biết, Thẩm đại nhân hiện đang ở đâu không? Còn sống hay đã mất?"

Viên tướng liếc nhìn ta một cái, có lẽ thấy ta là phận nữ nhi nên giọng điệu dịu lại đôi chút: "Đang ở đại lao tỉnh thành. Tạm thời chưa chết được, nhưng tội sống khó tha."

Đại lao tỉnh thành...

Ta nghiến răng: "Ta muốn đi gặp ngài ấy."

"Gặp hắn?" Viên tướng cười khẩy, "Ngươi tưởng đại lao là nhà ngươi mở chắc? Muốn gặp là gặp sao?"

"Ta có cách." Ta nói, "Xin Tướng quân tạo chút thuận lợi."

Ta móc toàn bộ số bạc trên người, tầm năm mươi lạng, nhét vào tay hắn.

Viên tướng cân cân số bạc, sắc mặt khá hơn hẳn: "Thấy ngươi cũng là hạng người có tình có nghĩa, bản Tướng quân sẽ phá lệ một lần. Nhưng chỉ mình ngươi được vào, hơn nữa chỉ có thời gian một nén nhang thôi."

"Đủ rồi."

Chiều hôm đó, ta xuất phát đi tỉnh thành.

Lý Trung muốn đi cùng nhưng ta không cho.

"Công trường cần có người trông coi. Vả lại, ta đi một mình, mục tiêu nhỏ, không dễ bị phát hiện."

Thực chất là ta sợ làm liên lụy đến hắn.

Chuyến đi tỉnh thành này lành ít dữ nhiều. Nhưng Thẩm Tịch vì ta mà bị liên lụy, ta không thể không đi.

Xe ngựa đi mất hai ngày thì tới tỉnh thành.

Đại lao nằm ở phía Tây thành, âm u lạnh lẽo. Ta đưa cho tên cai ngục mười lạng bạc, hắn mới chịu cho ta vào.

Trong lao vừa ẩm ướt vừa hôi thối, chuột bọ chạy khắp nơi. Thẩm Tịch bị giam ở gian trong cùng, biệt giam một mình.

Ta bước đến trước cửa lao, nhìn thấy chàng.

Chàng mặc áo tù, tóc tai rối bời, trên mặt có vết thương nhưng đôi mắt vẫn sáng quắc như xưa.

Nhìn thấy ta, chàng ngẩn người một chút rồi mỉm cười: "Sao nàng lại tới đây?"

"Ta đến thăm ngài." Ta nhìn chàng qua song sắt, nước mắt không kìm được mà trào ra, "Họ đánh ngài sao?"

"Chỉ là vết thương ngoài da thôi, không sao đâu." Chàng đưa tay ra định lau nước mắt cho ta nhưng không với tới, "Đừng khóc. Ta không sao."

"Sao có thể không sao được..." Ta nghẹn ngào, "Tất cả là tại ta... Nếu không có công trình đào kênh, ngài cũng không đến nông nỗi này..."

"Không liên quan đến nàng." Thẩm Tịch lắc đầu, "Lưu Dung vốn đã muốn triệt hạ ta từ lâu. Lần này chỉ là mượn cớ để ra tay thôi."

"Vậy giờ phải tính sao?" Ta hỏi, "Công trình đã bị niêm phong, thợ đều bị xua đuổi rồi..."

"Công trình không thể dừng được." Thẩm Tịch bám chặt vào song sắt, ánh mắt kiên định, "Nước đã thông rồi, giờ mà dừng lại thì bao công sức đổ sông đổ biển hết. Vả lại, trăm họ vừa mới thấy hy vọng, không thể để họ thất vọng thêm lần nữa."

"Nhưng mà..."

"Nghe ta nói này." Chàng hạ thấp giọng, "Trong ngăn kéo bí mật ở đầu giường ta có một phong thư. Nàng quay về tìm lấy bức thư đó rồi mang lên kinh thành, giao cho một người tên là Từ Giai. Ông ấy là thầy của ta, cũng là Thủ phụ đương triều. Ông ấy xem thư xong sẽ nghĩ cách cứu ta, cũng sẽ giữ lại được công trình."

Thư sao? Thủ phụ sao?

Ta sững sờ.

"Nhớ lấy, thư phải đích thân giao cho Từ đại nhân, không được qua tay người thứ ba." Thẩm Tịch nhìn thẳng vào mắt ta, "Việc này chỉ có nàng mới làm được. Những người khác, ta không tin tưởng."

Ta gật đầu thật mạnh: "Được, ta đi."

"Trên đường cẩn thận." Chàng nói, "Lưu Dung sẽ không để nàng rời khỏi Giang Nam dễ dàng đâu."

"Ta biết."

Thời gian đã hết, cai ngục đến thúc giục.

Ta nhìn Thẩm Tịch lần cuối: "Đợi ta."

Chàng gật đầu, trong mắt lấp lánh tia sáng: "Ta đợi nàng."

Bước ra khỏi đại lao, ánh nắng chói chang đến nhức mắt.

Ta lau nước mắt, hít sâu một hơi.

Thẩm Tịch, ngài yên tâm.

Dù phải liều mạng này, ta cũng nhất định đưa thư tới nơi.

Cũng nhất định cứu ngài ra ngoài.

Trở về huyện thành đã là đêm khuya.

Ta lén lút lẻn vào nha môn — hiện tại nha môn đã bị người của Lưu Dung kiểm soát, nhưng ta quá quen thuộc nơi này, biết cách tránh né lính canh.

Phòng của Thẩm Tịch đã bị niêm phong, trên cửa dán giấy niêm phong. Ta trèo qua cửa sổ vào phòng, mò đến đầu giường, tìm thấy ngăn kéo bí mật.

Bên trong quả nhiên có một phong thư, dày cộm, được bọc bằng giấy dầu.

Còn có một miếng lệnh bài bằng đồng, trên đó khắc một chữ "Từ".

Ta giấu kỹ thư và lệnh bài vào sát người, vừa định trèo cửa sổ ra ngoài thì chợt nghe thấy tiếng bước chân bên ngoài.

"Lục soát kỹ cho ta! Không được bỏ sót gian phòng nào!"

Là người của Lưu Dung!

Ta vội vàng trốn xuống gầm giường.

Cửa bị đẩy ra, mấy tên binh lính cầm đuốc xông vào.

"Căn phòng này đã lục soát chưa?"

"Soát rồi, chẳng tìm thấy gì cả."

"Lục lại lần nữa! Lưu đại nhân nói rồi, chắc chắn Thẩm Tịch có giấu đồ quan trọng!"

Chúng lục tung căn phòng, thậm chí còn cạy mấy miếng ván sàn lên.

Ta nín thở, tim đập thình thịch như đánh trống.

Ánh đuốc loang loáng trước giường, ta có thể nhìn thấy đôi ủng của tên lính ngay trước mắt.

Đột nhiên, một con chuột chạy ngang qua người ta.

"Có chuột!"

Một tên lính cúi xuống nhìn vào gầm giường.

Ta nhắm mắt lại, thôi xong rồi...

Nhưng đúng lúc này, bên ngoài vang lên tiếng hò hét: "Cháy rồi! Kho lương cháy rồi!"

Đám lính ngẩn ra, vội vã lao ra ngoài.

Ta nhân cơ hội trèo cửa sổ ra ngoài, thấy phía kho lương lửa bốc lên ngút trời — là Lý Trung! Hắn đang giúp ta!

Ta không kịp nghĩ nhiều, nhảy tường ra khỏi nha môn, chạy thẳng về phía cổng thành.

Cổng thành đã đóng, nhưng trong đám lính canh cổng có cháu của lão Triệu. Ta tìm thấy hắn, nhét vào tay hắn năm lạng bạc.

"Triệu đại ca, ta phải ra khỏi thành, có việc gấp."

Hắn do dự một chút rồi nghiến răng: "Lâm cô nương, cô nương có ơn với bọn ta. Việc này ta giúp!"

Hắn lén mở cửa nách thả ta ra ngoài.

"Cô nương, trên đường cẩn thận."

"Cảm ơn huynh."

Ra khỏi thành, ta không dám đi đường lớn mà chui vào những con đường mòn trong núi.

Đường núi khó đi nhưng ta không màng tới. Trong lòng chỉ có một ý niệm: Lên kinh thành, đưa thư, cứu Thẩm Tịch.

Đi ròng rã suốt một đêm, khi trời sắp sáng, ta mệt đến mức không bước nổi nữa, tìm đại một hang núi để nghỉ ngơi.

Vừa ngồi xuống đã nghe thấy tiếng vó ngựa bên ngoài.

"Lục soát kỹ vào! Chắc chắn nó chưa chạy xa đâu!"

Là quân truy đuổi!

Ta vội vàng trốn sâu vào trong hang.

Hang núi rất sâu, càng vào trong càng tối đen như mực. Ta lần theo vách đá mà đi, bỗng nhiên chân dẫm vào khoảng không —

Ta ngã xuống một cái hố sâu.

Hố không sâu lắm nhưng cú ngã khiến ta choáng váng cả người. Khi tỉnh táo lại, ta phát hiện mình đang ở trong một hang động dưới lòng đất.

Hang động rất rộng, có tiếng nước chảy rì rào.

Ta lần theo tiếng động đi tới, thấy một con sông ngầm. Nước sông trong vắt, chảy cuồn cuộn.

Đây là... sông ngầm sao?

Ta cúi xuống, vốc một ngụm nước uống. Nước ngọt lịm và mát lạnh.

Đột nhiên, ta chú ý trên vách đá ven sông có khắc chữ.

Tiến lại gần nhìn kỹ, đó là mấy chữ lớn: "Nguồn của Thanh Hà".

Phía dưới còn có một dòng chữ nhỏ: "Đại Vũ trị thủy, ba lần đi qua cửa nhà mà không vào. Nay ta trị sông Thanh Hà, cũng nên như vậy. Thẩm Thanh Sơn, ghi năm Canh Tý."

Thẩm Thanh Sơn?

Tên của cha ta!

Đây là do cha ta khắc sao? Ông đã từng tới đây ư?

Ta xúc động đến mức tay run bần bật. Xem tiếp xuống dưới, còn có những dòng chữ nhỏ hơn:

"Con sông ngầm này là nguồn mạch chính của sông Thanh Hà, lượng nước dồi dào. Nếu có thể dẫn nước ra khỏi núi thì có thể tưới tiêu cho vạn mẫu đất Giang Nam. Tuy nhiên thế núi hiểm trở, công trình to lớn, không phải một đời người có thể hoàn thành. Để lại chờ người có duyên."

Người có duyên...

Chính là ta sao?

Ta nhìn con sông ngầm chảy xiết, trong lòng bỗng sáng tỏ như ban ngày.

Hóa ra cha ta đã sớm tìm thấy nguồn của sông Thanh Hà. Nhưng ông biết rằng với kỹ thuật và tài lực khi đó thì không thể dẫn nước ra khỏi núi được. Vì thế ông để lại những dòng chữ này, chờ đợi người đời sau.

Và bây giờ, thời cơ đã đến.

Bọn ta có guồng nước, có thuốc nổ (dù không nhiều), có hàng vạn người thợ.

Bọn ta có thể làm được!

Ta lấy giấy bút từ trong ngực ra — đây là thói quen mang theo người của ta để ghi chép dữ liệu thủy lợi — rồi rập lại những chữ trên vách đá.

Vừa rập xong, bên ngoài vang lên tiếng hò hét:

"Tìm thấy chưa?"

"Chưa thấy! Hang này sâu quá, liệu có dã thú không?"

"Tiếp tục tìm! Sống phải thấy người, chết phải thấy xác!"

Quân truy đuổi đã vào trong hang.

Ta vội vàng cất kỹ tờ giấy rập, lần theo con sông ngầm đi về phía hạ lưu.

Sông ngầm lúc rộng lúc hẹp, có chỗ phải lội nước, có chỗ phải bò trườn. Ta không biết đã đi bao lâu, cho đến khi nhìn thấy phía trước có ánh sáng.

Đó là một lối ra.

Trước Tiếp