Tư Cung Lệnh - Mễ Lan Lady

Chương 11: Liễu Tiệp Dư

Trước Tiếp

Yến tiệc Trùng Cửu trong cung năm nay vẫn được tổ chức tại điện Khánh Thụy để thưởng cúc. Trong điện bày biện đủ các loài cúc vàng quý hiếm như Ngự Y Hoàng, Hoàng Tân La, Hoàng Phật Đầu, Kim Trản Kim Đài, Tiêu Kim Cúc… Đèn cung đình treo trong điện cũng ứng theo thời lệnh, hoặc vẽ hình hoa cúc, hoặc kết thành hình đóa hoa. Hàng vạn ngọn đèn hoa hình cúc tỏa ánh sáng rực rỡ, lộng lẫy đến lóa mắt.

Thế nhưng, ánh mắt dịu dàng của hoàng đế Triệu Vỹ lại chỉ quyến luyến dừng lại nơi Liễu Tiệp Dư đang quỳ gối trước mặt mình, đầu cúi thấp, đôi tay khéo léo chế biến món Cua Rửa Tay.

Trong mâm bạc vun một ngọn núi nhỏ bằng băng vụn, trên đỉnh núi đặt một chiếc đĩa lưu ly trong suốt tựa băng tuyết. Trong đĩa là thịt cua sống đã được băm nhỏ, gạch cua nửa vàng ươm, hai càng trắng như tuyết, thớ thịt trong veo như ngọc, dưới sự phản chiếu của đĩa lưu ly và vụn băng càng thêm phần trong trẻo, mát lạnh.

Liễu Tiệp Dư cầm thìa bạc, lần lượt rưới rượu, muối, nước mơ, gừng băm, mứt cam và tiêu bột lên thịt cua, rồi dùng đũa bạc trộn đều.

Trên búi tóc mây của Tiệp Dư có cài một đóa cúc Bích Thiền màu xanh biếc, mỗi cử động của nàng khiến bóng hoa lay động trên núi băng, tựa như áng mây nhẹ lướt qua đỉnh tuyết. Hoàng đế mỉm cười ngắm nhìn, chỉ thấy tình này cảnh này đẹp đẽ vô cùng, khiến cho ngàn vạn đóa hoa vàng trong điện bỗng trở nên ồn ào dung tục.

Liễu Tiệp Dư gác đũa bạc, rửa tay trong chậu nước thơm do thị nữ dâng lên, rồi mời nội nhân Ti Thủy dâng món Cua Rửa Tay này lên cho Hoàng đế.

Bùi Thượng thực – người chịu trách nhiệm nếm thử món ăn trước khi dâng lên vua – cung kính bước ra, định lấy một ít nếm trước. Hoàng đế lại lắc đầu ngăn cản: "Bùi Thượng thực tuổi đã gần lục tuần, không nên ăn vật có tính hàn như thế này. Món Cua Rửa Tay này, cứ để Tiệp Dư nếm trước đi."

Bùi Thượng thực sững người, rồi vội cúi đầu vâng dạ, lặng lẽ lui về.

Liễu Tiệp Dư vâng mệnh, đón lấy đĩa bạc đựng thịt cua từ tay nội nhân, dùng đũa bạc gắp cua đưa lên miệng, nếm xong đợi một lát, mới khẽ cười, nghiêng người bẩm báo: "Mặn nhạt vừa vặn."

Nội nhân Ti Thủy thu lại đĩa đũa, kiểm tra không có gì khác thường, mới cung kính mời Hoàng đế thưởng thức gỏi cua. Hoàng đế gật đầu. Liễu Tiệp Dư cáo lui. Một lát sau nàng trở lại điện, đã thay vũ y, chải tóc búi cao, đeo chuỗi ngọc anh lạc, tà áo thướt tha, tay ôm đàn tỳ bà, đẹp tựa tiên nữ bước ra từ bích họa Đôn Hoàng.

Ngón tay thon dài vừa gảy, tiếng nhạc cất lên, chính là khúc "Lương Châu". Sắc mặt Hoàng đế thoáng đổi, bàn tay đang cầm chén rượu khựng lại. Liễu Tiệp Dư hoàn toàn không hay biết, ôm đàn tỳ bà duỗi tay uốn eo, hòa theo tiếng nhạc mà chuyển động. Khúc nhạc này khác hẳn những điệu nhạc êm dịu thường thấy trong cung, khi thì dồn dập như mưa rào, khi thì rầm rì như lời tỏ tình, trong tiếng tỳ bà thánh thót như châu rơi vào mâm ngọc lại ẩn chứa âm hưởng kim loại va chạm leng keng. Liễu Tiệp Dư dáng múa uyển chuyển, chốc chốc lại xoay tròn bay bổng. Khúc nhạc càng cao trào, nàng múa càng nhanh, hoa bay ảnh lướt, khiến không gian ngập tràn ánh đèn hoa cúc càng trở nên huyền ảo như cõi mộng.

Múa xong một điệp khúc, Liễu Tiệp Dư buông đàn tỳ bà, vừa múa vừa di chuyển đến trước mặt Hoàng đế, bất ngờ vươn tay, nhấc chén rượu trước mặt ngài lên.

Hoàng đế đã khôi phục thần thái ban đầu, mỉm cười mặc nàng tùy ý hành động. Nàng nâng chén rượu trên tay, tiếp tục xoay tròn, dù nâng tay hay phất tay áo thế nào, rượu trong chén cũng không sánh ra một giọt. Mọi người trong điện đưa mắt nhìn nhau, thầm lấy làm lạ.

Tiếng nhạc dần chậm lại, Liễu Tiệp Dư múa quay về trước mặt Hoàng đế, xoay lưng về phía ngài rồi ngửa đầu uốn cong thắt lưng ra sau, đặt chén rượu lên trán, hai tay dang rộng, eo tiếp tục uốn cong thành một độ cong kinh người rồi mới tĩnh lại. Chén rượu nằm vững vàng trên trán nàng, không hề lay chuyển.

Hoàng đế đích thân lấy chén rượu trên trán Tiệp Dư, từ từ uống cạn. Tiệp Dư mỉm cười xoay người, vái chào hành lễ.

Dường như men rượu đã thấm vào lòng, đôi má Hoàng đế ửng hồng, mỉm cười nhìn nàng, trong mắt ánh lên nét nhu tình kín đáo.

"Nghe nói, hôm qua Liễu Tiệp Dư múa điệu 'Lương Châu'?" Tại Tĩnh Nhạc Đường trong cung Từ Phúc, Hoàng Thái hậu Ân thị ngồi ngay ngắn, khóe mắt liếc qua Lệ Quý phi đang đến thỉnh an, nhàn nhạt hỏi.

Lệ Quý phi len lén nhìn Thái hậu. Làn khói xanh từ miệng con lân vàng bay lên lững lờ như dải lụa lướt qua ấn đường của Thái hậu. Bà vẫn giữ thần thái như mọi ngày, ánh mắt không chút gợn sóng, chẳng vui cũng chẳng buồn.

"Vâng ạ." Lệ Quý phi đáp, "Ngày thường cô ta chỉ tập luyện trong cung của mình, cửa đóng then cài, người ngoài không biết, thần thiếp cũng mới biết hôm qua."

"Là muốn tạo bất ngờ cho Quan gia đây mà." Thái hậu nói. Một lát sau lại hỏi: "Ta còn nghe nói, món Cua Rửa Tay cô ta làm, Quan gia lại không cho Bùi Thượng thực nếm thử, mà bắt Liễu Tiệp Dư tự mình nếm?"

Lệ Quý phi gật đầu xác nhận, không dám nói thêm lời nào.

Thái hậu hỏi tiếp: "Ngoài Cua Rửa Tay, gần đây cô ta còn làm món gì cho Quan gia ăn nữa?"

"Một vài món điểm tâm thôi ạ." Lệ Quý phi khẽ đáp, "Những món Quan gia thích, quanh đi quẩn lại cũng chỉ có mấy món ấy: Bánh Ấn Nhi, Bánh Phù Dung, Bánh Bao Cua, Quả Mật Đường, Bánh Viên Hoan Hỷ..."

Thái hậu dường như có chút mệt mỏi, dựa người vào chiếc gối tựa sau lưng, nhắm mắt lại. Một lúc sau, bà mở mắt, ánh mắt lười biếng ném về phía bình hoa cúc Ngọc Âu màu tím trắng xen kẽ trên kệ, lộ ra một nụ cười lạnh lẽo: "Khá thật đấy, vừa biết múa 'Lương Châu', lại vừa biết làm điểm tâm."

Nụ cười lạnh thoáng qua ấy không chỉ khiến Lệ Quý phi, mà ngay cả vị hoạn quan già đứng hầu bên cạnh là Trình Uyên – một cánh tay đắc lực của cung Từ Phúc – cũng cảm thấy sống lưng lạnh toát.

Hoàng Thái hậu xưa nay vui giận không lộ ra mặt, nụ cười lạnh ấy gần như là cách biểu đạt sự phẫn nộ kịch liệt nhất của bà rồi. Trình Uyên trong lòng bất an, nhưng ngoài mặt không để lộ chút gì, vẫn im lặng đứng hầu, mắt nhìn xuống mũi giày, cùng Lệ Quý phi đợi Thái hậu tìm chủ đề khác.

Sau khi Lệ Quý phi đi khỏi, Hoàng Thái hậu gọi Trình Uyên đến, hỏi tại sao Quan gia dạo này thường xuyên để Liễu Tiệp Dư làm ngự thiện, mà Bùi Thượng thực lại khoanh tay đứng nhìn. Trình Uyên đáp: "Có lẽ cơm nước trong cung Quan gia dùng nhiều năm, đã không còn thấy mới lạ. Liễu Tiệp Dư xuất thân dân gian, cách nấu nướng khác biệt với trong cung, khiến Quan gia cảm thấy tươi mới. Quan gia đã mở miệng bảo Liễu Tiệp Dư nấu, Bùi Thượng thực cũng không dám trái lệnh."

Hoàng Thái hậu nói: "Tuy nói lời Quan gia là thánh chỉ, nhưng chuyện ăn uống không phải chuyện nhỏ, liên quan đến long thể an nguy, sao có thể không làm theo quy tắc? Ngươi gặp Quan gia, nhất định phải chuyển lời của lão thân cho ngài biết."

Trình Uyên vâng dạ lĩnh mệnh. Hoàng Thái hậu ngẫm nghĩ một lát rồi nói: "Thôi, hà tất phải tốn lời chi cho mệt. Ngươi đừng nhắc đến chuyện Liễu Tiệp Dư, cứ bàn với Bùi Thượng thực, bảo rằng các cung nữ trẻ ở Thượng Thực Cục tay nghề còn non, không đủ đảm đương trọng trách, kiến nghị Quan gia ban lệnh xuống các châu phủ, tuyển chọn những nữ t.ử dân gian có trù nghệ tinh diệu vào cung, bổ sung cho Thượng Thực Cục."

Trình Uyên nhận lệnh. Thái hậu dừng một chút, rồi bổ sung: "Những nữ t.ử này, tuổi không được quá hai mươi, dung mạo phẩm hạnh đều không được kém."

Trình Uyên rời khỏi Tĩnh Nhạc Đường, chuẩn bị đến Đại Nội. Cung Từ Phúc vốn là cung viện do Tiên đế hạ lệnh xây dựng. Tiên đế yêu thích cảnh đẹp non nước, nên cho đào ao làm hồ, đắp đá làm núi trong vườn, mô phỏng cảnh sắc Tây Hồ. Lại trồng nhiều hoa cỏ bốn mùa, hậu viên sâu thẳm quanh co, mỗi bước đi là một cảnh đẹp.

Con đường Trình Uyên đang đi trồng đầy tùng dài trúc cao, xanh mướt che khuất mặt trời, bóng râm mát rượi như mây. Đi giữa lối này, ánh nắng xuyên qua kẽ lá rơi xuống y phục giống như mảnh vụn của vàng của ngọc. Vòng qua hang đá sau rừng tùng, cảnh vật trước mắt bỗng nhiên thoáng đãng, thác nước từ nguồn Tiểu Tây Hồ đổ xuống từ trên không, rót vào hồ nước xanh biếc rộng hơn mười mẫu, trong hồ trồng đầy hoa sen chủng loại đa dạng. Trình Uyên vừa đến bên hồ, liền thấy trên tảng đá lớn bên bờ hồ, dưới chân thác nước, có một nữ t.ử dáng người yểu điệu đang đứng đón gió, tà áo bay bay, tưởng chừng như sắp cưỡi gió bay lên.

Trình Uyên sững sờ, cảm thấy khí huyết dâng trào, khóe mắt nóng lên, trái tim cũng đập loạn nhịp không sao kìm nén được.

Ông rảo bước nhanh hơn, đến gần nhìn kỹ, trái tim đang nhảy nhót mới dần bình ổn trở lại.

Chỉnh lại y quan, ông vái dài chào người nữ t.ử kia: "Liễu nương t.ử vạn an."

Liễu Tiệp Dư thế mà lại khẽ nhún mình đáp lễ ông: "Trình tiên sinh vạn phúc."

Trình Uyên vội vàng đáp lễ lại, miệng nói: "Nương t.ử làm vậy tổn thọ lão thần mất."

Liễu Tiệp Dư mỉm cười: "Trình tiên sinh là lương thần hai triều, ta vốn là phận con cháu, thi lễ là việc nên làm."

Trình Uyên lại khiêm tốn tạ ơn, rồi hỏi Liễu Tiệp Dư: "Nương t.ử đến cung Từ Phúc lần này là để thỉnh an Thái hậu sao?"

"Thái hậu nói dạo này thường cảm thấy mệt mỏi do tiết thu, không tiện gặp người ngoài nhiều, nên đã miễn cho ta lễ thỉnh an." Liễu Tiệp Dư buồn bã nói, rồi lại mỉm cười với Trình Uyên, "Là ta cố ý ở đây đợi Trình tiên sinh. Có một việc ta rất băn khoăn, mong tiên sinh chỉ giáo."

Trình Uyên mời Tiệp Dư cứ nói. Liễu Tiệp Dư bảo: "Hôm qua ta múa khúc 'Lương Châu' tại tiệc Trùng Cửu, Quan gia lúc đó xem xong, khi về tẩm điện lại dặn dò ta không được múa điệu này nữa, nói rằng... Thái hậu không thích."

Trình Uyên gật đầu: "Đúng vậy, sau khi Tiên đế băng hà, khúc này đã tuyệt tích trong cung."

Liễu Tiệp Dư dè dặt hỏi: "Ta có thể hỏi nguyên do không?"

Trình Uyên trầm ngâm không nói. Liễu Tiệp Dư tháo chiếc vòng ngọc mỡ cừu trên cổ tay, định dúi vào tay ông. Trình Uyên vội lùi lại hai bước, cúi người từ chối: "Nương t.ử vạn lần không thể làm thế. Thần không phải kẻ tham tài trục lợi, hơn nữa hành động này của nương t.ử nếu để Thái hậu biết được, e rằng..."

Liễu Tiệp Dư hiểu ra, thu lại vòng ngọc, gượng cười: "Là ta suy nghĩ chưa chu toàn, suýt nữa làm liên lụy đến tiên sinh."

Trình Uyên cúi đầu nhìn bóng dáng nhu mì của nàng in xuống mặt nước, khẽ thở dài, giữ vẻ mặt cung kính, chậm rãi nói: "Trong cung Tiên đế, từng có một nữ t.ử am hiểu âm luật, giỏi ca múa, nhan sắc đứng đầu Tiên Thiều Viện, người ta gọi là Cúc Bộ Đầu."

"Điệu múa 'Lương Châu' kia có liên quan đến bà ấy?" Liễu Tiệp Dư hỏi.

Trình Uyên gật đầu: "Bà ấy nhiều lần hiến vũ trong các yến tiệc cung đình, một khúc 'Lương Châu' nhẹ nhàng như chim hồng kinh sợ, uyển chuyển như rồng lượn, vẻ đẹp của điệu múa ấy không ai sánh kịp, đến nỗi sau này bà ấy không còn ở trong cung nữa, Tiên đế vẫn nhớ mãi không quên."

Liễu Tiệp Dư trong phút chốc đã hiểu nguyên nhân Hoàng Thái hậu chán ghét điệu múa "Lương Châu", lại vái chào Trình Uyên: "Đa tạ tiên sinh đã cho biết."

Trình Uyên vẫn không quên đáp lễ: "Nương t.ử quá khách khí rồi."

Liễu Tiệp Dư ngẫm nghĩ, lại hỏi: "Vị Cúc Bộ Đầu này, năm xưa tại sao lại xuất cung? Hiện giờ bà ấy ở đâu?"

Trình Uyên khẽ lắc đầu, vẻ mặt bí hiểm: "Chuyện này, nương t.ử đừng nên hỏi nữa."

Liễu Tiệp Dư không truy hỏi thêm, cảm tạ lần nữa rồi định cáo từ rời đi. Trình Uyên lại mời nàng dừng bước, dặn dò: "Ngoài Cúc Bộ Đầu ra, còn một vị cung nhân triều Tiên đế nữa cũng tuyệt đối không được nhắc đến trước mặt Thái hậu."

"Ồ, là ai vậy?" Liễu Tiệp Dư cúi đầu xin chỉ giáo.

Trình Uyên từ tốn thốt ra ba chữ: "Lưu Thượng thực."

Trước Tiếp