Toàn Cầu Hóa Xác Sống, Riêng Tôi Về Quê Làm Ruộng

Chương 32: Dấu Chân

Trước Tiếp

Tối nay đến lượt Khương Tảo và Lý Di rửa chén, dọn dẹp bếp núc sạch sẽ xong xuôi thì trời đã muộn, Lý Di về phòng ngủ, Khương Tảo ăn hơi no nên đi lại trong sân cho tiêu cơm.

Vừa ngẩng đầu lên, cô thấy có người ngồi trên cây hòe.

"Chưa ngủ à?"

"Ăn no quá, không ngủ được." Văn Chiêu cúi đầu nhìn cô, vỗ vỗ cành cây bên cạnh.

"Lên đây ngồi chút không?"

"Được."

"Cẩn thận."

Văn Chiêu đưa tay kéo cô một cái, Khương Tảo ngồi xuống cành cây bên cạnh, cây hòe này tính tuổi đời còn lớn hơn cả Khương Ngũ Ni, nghe nói khi bà gả về đây thì nó đã ở đây rồi.

Khương Tảo không lo cành cây gãy, chỉ là hai chân đung đưa giữa không trung khiến cô cảm thấy không an toàn lắm.

Văn Chiêu hờ hững đặt tay sau lưng cô, đến khi cô ngồi vững vàng mới thu tay về.

Khương Tảo thấy cô ấy vẫn mân mê chiếc kèn harmonica trên tay.

"Sao không thổi?"

Lúc cô chưa lên, Văn Chiêu mấy lần đưa kèn lên miệng, định thổi nhưng lại hạ xuống.

"Trời tối rồi, sợ thu hút xác sống."

Giọng cô ấy bình thản, nhưng trong mắt thoáng nét buồn bã.

Khương Tảo hiểu ra, hôm nay là ngày đoàn viên.

"Nhớ nhà à? Muốn thổi thì thổi đi, tiếng kèn harmonica cũng không lớn, tường rào cao, xác sống không vào được đâu."

Văn Chiêu có vẻ ngạc nhiên khi nghe cô nói vậy, trong ánh mắt chờ đợi của Khương Tảo, Văn Chiêu bắt đầu thổi.

Tiếng kèn harmonica du dương trầm bổng cứ thế nhẹ nhàng lan tỏa trong sân nhỏ.

Ngoài đình nghỉ chân, cạnh con đường cổ, cỏ thơm xanh ngắt tận chân trời. Hỏi người đi chuyến này bao giờ trở lại, lúc về xin chớ có ngập ngừng.

Chân trời góc biển, tri kỷ nay đã tản mát nửa phần. Đời người hiếm khi được sum họp, chỉ có biệt ly là nhiều.

Kết thúc bài hát, Khương Tảo nhìn nét u sầu vương trên mi mắt Văn Chiêu.

"Sao không thổi nữa?"

Văn Chiêu cười ngượng ngùng.

"Tôi chỉ biết mỗi bài này thôi."

Thấy Khương Tảo cứ nhìn chằm chằm chiếc kèn harmonica trên tay mình, tưởng cô cũng muốn chơi, bèn hào phóng đưa qua.

"Cô muốn thử không?"

Văn Chiêu đầy vẻ mong chờ, Khương Tảo lại do dự không nhận, Văn Chiêu chợt hiểu, lấy tay áo lau lau chỗ tiếp xúc với môi trên kèn, rồi đưa lại lần nữa.

Có lẽ là ảo giác của Văn Chiêu, dưới ánh trăng cô ấy thấy khóe môi Khương Tảo khẽ cong lên, rồi trở lại bình thường, từ chối ý tốt của cô ấy.

"Thôi không cần đâu, tôi không biết thổi cái này."

Đêm nay Văn Chiêu có vẻ hơi buồn, nhưng cũng không phải vì bị từ chối, cô ấy chỉ v**t v* chiếc kèn harmonica, lẩm bẩm.

"Không biết... bạn tôi trên trời có ổn không?"

"Con người ai rồi cũng phải chết, chỉ khác là sớm hay muộn thôi, nhìn tình hình mạt thế bây giờ, chắc cũng chẳng được bao lâu nữa đâu."

Khương Tảo khi nói những lời này luôn thản nhiên, mang theo chút giọng điệu đùa cợt, bất cần đời.

Như thể cô đã từng chết thật rồi vậy.

Văn Chiêu nghiêng đầu nhìn cô: "Hình như chưa bao giờ nghe cô nhắc đến mẹ cô."

"Mẹ tôi mất sau khi sinh tôi không bao lâu."

Khương Tảo quay mặt lại: "Sao cô không hỏi bố tôi đi đâu rồi?"

"Cái đó có gì mà hỏi, nhà cô đến một tấm ảnh của ông ta cũng không có, cảm giác cũng chẳng quan trọng lắm."

Trong nhà chính ngoài tượng Phật Quan Âm Khương Ngũ Ni thờ ở chính giữa, trên tường bên cạnh dán toàn giấy khen của Khương Tảo, cùng một bức ảnh gia đình ba người.

Người phụ nữ bế đứa bé đứng giữa, đường nét khuôn mặt lờ mờ có vài phần giống Khương Tảo, người đứng bên cạnh chính là Khương Ngũ Ni.

"Nghe bà ngoại kể, mẹ sinh tôi ra là con gái nên gia đình bên nội định dìm chết tôi, mẹ tôi liều chết không chịu, nhờ người báo tin cho nhà ngoại, Khương Ngũ Ni đẩy xe ba gác đến đón hai mẹ con về, hôm đó bà trèo đèo lội suối, đi mòn cả một đôi giày cỏ, ở chỗ chúng tôi đón cô dâu đã gả đi về nhà mẹ đẻ coi như là đoạn tuyệt quan hệ luôn."

"Gã đàn ông đó bao nhiêu năm nay chưa từng đến thăm cô sao?"

Khương Tảo rất vui khi Văn Chiêu không dùng từ "bố" để gọi gã đàn ông đó.

"Không, tôi thấy may mắn vì ông ta không đến, nếu không tôi lớn rồi ông ta lại đến quấy rầy, bắt tôi nuôi thì phiền phức lắm."

"Cô có hận ông ta không?"

"Tôi sinh ra vốn đã có duyên phận với người thân rất mỏng, oán hận thù ghét, những cái đó chỉ dành cho người còn tình cảm với họ thôi."

Đêm nay trăng sáng, ánh trăng xuyên qua kẽ lá chiếu xuống người Khương Tảo, mái tóc mới mọc của cô trông có vẻ mềm mại, lúc cô nói chuyện, cũng khiến người ta muốn xoa đầu.

Văn Chiêu giơ tay lên, rồi lại hạ xuống.

"Vậy cô có nhớ mẹ không?"

"Nhớ chứ, nhưng nhiều lúc tôi nghĩ, tại sao bà lại sinh ra tôi, để tôi đến thế giới này chịu khổ, tại sao phải lấy chồng sinh con tàn phá cơ thể mình, lúc tôi còn chưa biết gì đã rời bỏ nhân gian bỏ tôi mà đi, nhưng càng lớn, tôi càng hiểu bà hơn, câu cửa miệng của Khương Ngũ Ni là, đời bà coi như xong rồi, ông ngoại tôi nghiện rượu, đánh người, vô công rồi nghề. Bà đặt hết hy vọng vào tôi và mẹ tôi, mà đối với thế hệ của mẹ tôi, cách thoát khỏi gia đình gốc là nhảy từ hố lửa này sang hố lửa khác, dựa dẫm vào một người đàn ông chịu lấy mình là cách duy nhất để rời khỏi nơi này, cũng giống như tôi liều mạng thi đại học để thoát khỏi vùng núi vậy, chỉ là tôi có quyền lựa chọn, còn bà ấy thì không."

Văn Chiêu một người xem nhẹ sinh tử và duyên phận gia đình như Khương Tảo thực ra không cần an ủi, cô đã đủ mạnh mẽ rồi, cô chỉ cần một người biết lắng nghe đúng lúc.

"Nguyện vọng thi đại học để thoát khỏi vùng núi của cô đã thành hiện thực rồi, nếu mạt thế kết thúc, cô muốn làm gì? Quay lại thành phố Lâm Hải à?"

Trên mặt Khương Tảo thoáng vẻ mờ mịt.

"Không biết nữa, thật ra tôi cũng không có cảm giác thuộc về thành phố Lâm Hải, dù tôi đã ở đó mười năm tính cả thời gian học đại học, nếu mạt thế kết thúc, chắc tôi vẫn muốn như trước kia, làm một vlogger dã ngoại, đi khắp nơi ngắm nhìn thế giới thôi."

Văn Chiêu gấp một chiếc thuyền lá đưa cho cô.

"Vậy... chúc ước mơ đi vòng quanh thế giới của cô thành hiện thực."

Khương Tảo nhận lấy, nhìn chiếc thuyền lá trong lòng bàn tay, khóe môi khẽ cong lên: "Cảm ơn."

Đêm đó họ còn nói rất nhiều chuyện, về công việc, cuộc sống, gia đình, thậm chí kể cả những chuyện ngốc nghếch Văn Chiêu từng làm trước đây.

"Mẹ tôi trước kia bán bánh rán trước cổng trường chúng tôi, lúc đó tôi mới vào cấp ba, cô biết đấy, tuổi dậy thì mà, lúc lòng tự trọng cao nhất đời người, mỗi sáng tôi đi qua cổng trường, mẹ đều đưa cho tôi một cái bánh rán thêm thịt thêm trứng, bảo tôi cầm ăn, lâu dần bạn bè hay trêu chọc, hỏi đó có phải mẹ tôi không."

"Cho đến một hôm tôi bị họ đẩy đến trước quầy hàng, nhìn mái tóc bạc không giấu được dưới vành mũ của mẹ, mở miệng, run run gọi một tiếng: dì ơi..."

"Tôi thấy ánh sáng trong mắt mẹ vụt tắt, đó là chuyện tôi hối hận nhất trong đời."

Dường như lòng tự trọng mãnh liệt của tuổi trẻ ngông cuồng luôn làm tổn thương những người mình quan tâm.

Khương Tảo cũng rất đồng cảm với chuyện này, hồi cấp ba cô cũng không thích Khương Ngũ Ni đến trường huyện thăm mình, dù bà đến một chuyến phải trèo đèo lội suối rồi ngồi xe khách hai tiếng đồng hồ.

Mớ đặc sản bà mang đến chẳng giúp cô được lòng bạn bè, ngược lại còn khiến cô cảm thấy không ngẩng đầu lên được.

Nhưng nếu bây giờ ai dám chê dưa muối đậu phụ thối Khương Ngũ Ni làm không ngon trước mặt cô, cô nhất định sẽ mắng người đó không biết thưởng thức.

"Nhưng không sao đâu, sau này cô gia nhập lực lượng PRRF, bà ấy nhất định rất tự hào về cô."

"Tự hào... sao..."

Văn Chiêu bất chợt cắn chặt môi dưới, cơ thể cứng đờ trong giây lát, trước khi Khương Tảo nhìn sang, cô ấy lại khôi phục vẻ bình tĩnh.

"Khương Tảo, thực ra... tôi luôn có một câu hỏi muốn hỏi cô."

"Nếu lại là câu hỏi tôi có biết trước mạt thế hay không thì miễn nhé."

Văn Chiêu lắc đầu: "Không phải, tôi muốn nói là... nếu... tôi nói là nếu thôi nhé, tôi không phải người của lực lượng PRRF, cô còn cứu tôi không?"

"Cô muốn nghe nói thật hay nói dối?"

Văn Chiêu ngẩng đầu nhìn vào mắt cô: "Nói thật."

Khương Tảo nhìn vầng trăng sáng qua kẽ lá, giọng nhẹ tênh: "Không, tôi sẽ không cứu một người thân phận không rõ ràng, đem lại nguy hiểm cho mình."

Văn Chiêu cụp mắt, nén xuống tia thất vọng nơi đáy mắt.

Trăng dần ngả về tây.

Khương Tảo còn muốn nói gì đó thì Văn Chiêu đã nhảy xuống khỏi cây, sau đó dang rộng hai tay về phía cô: "Không còn sớm nữa, về ngủ đi."

"Ngủ ngon." Khương Tảo nắm lấy tay cô ấy, cũng nhảy xuống.

Về đến phòng, Khương Tảo đặt chiếc thuyền lá lên bệ cửa sổ, nơi vừa ngước mắt lên là có thể nhìn thấy.

Đêm đó hiếm khi không gặp ác mộng, đặt lưng xuống là ngủ ngay, mãi đến khi mặt trời lên cao mới bị Cola đánh thức, vươn vai ngồi dậy, bếp dưới nhà đã khói bay nghi ngút.

Bất kể là đông hay hè, khoảng thời gian từ lúc thức dậy đến khi ăn sáng hằng ngày luôn là giờ rèn luyện cố định của họ.

Khi đợt sương giá đầu tiên của mùa thu ập đến, Khương Tảo phát hiện mình không còn ở thế bị động chịu đòn khi đấu với Văn Chiêu nữa, nhận ra điều này, cô càng thêm hưng phấn.

Sau khi né được cú đấm thẳng của Văn Chiêu, Khương Tảo thuận thế đè cánh tay cô ấy xuống, tay phải đánh thẳng vào ngực, đồng thời nhanh chóng lên gối thúc vào cằm cô ấy.

Một luồng gió mạnh ập tới, đồng tử Văn Chiêu co lại, dùng chiêu rồng lượn vẫy đuôi thoát khỏi sự kìm kẹp của cô, lùi lại hai bước.

"Học nhanh đấy."

Khương Tảo vung nắm đấm, ánh mắt lóe lên vẻ tàn nhẫn, lại lao tới.

"Cái này gọi là dạy hết cho đệ tử, sư phụ chết đói."

Khác với những chiêu thức chính trực ôn hòa của Văn Chiêu, Khương Tảo ra đòn mang theo vài phần hiểm hóc tàn nhẫn, không đánh vào hạ bộ thì cũng chọc mắt móc họng, Văn Chiêu chịu thiệt mấy lần, liên tục lùi lại, xua tay chịu thua.

"Dừng dừng dừng, cô thế này không phải là đối luyện công bằng."

Khương Tảo nhớ lại lúc trước bị đánh bầm dập tím tái, khóe môi nở nụ cười tinh quái.

"Xác sống chẳng bao giờ đấu tay đôi công bằng với cô đâu, Tiểu Di, Cola, chúng ta cùng lên."

Lý Di và Cola đứng xem bên cạnh đã chờ không nổi nữa, Cola sủa một tiếng "gâu" rồi đứng dậy.

Văn Chiêu quay người định chạy thì bị người ta túm lấy cổ áo, cô ấy lộn một vòng, nắm lấy cánh tay Khương Tảo, thúc cùi chỏ vào bụng cô, nhân lúc cô bị đau thả lỏng, Văn Chiêu định chạy tiếp, lại phát hiện chân như mọc rễ xuống đất, cúi đầu nhìn, Cola đang cắn chặt ống quần mình.

Lý Di và Khương Tảo nhìn nhau, cùng lao vào.

Ba người một chó, lăn lộn vào ruộng rau, khung cảnh nhất thời hỗn loạn.

Khương Ngũ Ni vung cái xẻng nấu ăn chạy từ bếp ra.

"Khương Tảo! Suốt ngày không làm việc đàng hoàng cứ phá hoại cải thảo của bà, bà trồng được tí hạt giống dễ lắm đấy à! Không chết vì sương giá mà chết vì bị mấy đứa giẫm nát! Mau cút ra đây cho bà!"

Năm tháng không chờ đợi, thời tiết cứ thế trôi.

Sau một đợt sương giá trong núi, nhiệt độ giảm xuống âm độ.

Trong nhà chính cũng đốt lò sưởi.

Đàn thỏ con của con thỏ nhặt về lần trước lại đẻ thêm một lứa nữa, trời lạnh sợ chúng chết cóng, nên đều chuyển vào trong nhà.

Chuồng của Cola cũng chuyển vào.

Củi cháy đượm, thành lò đỏ rực, ống khói bên ngoài bốc khói đen nghi ngút, bên trên còn nướng mấy củ khoai lang và khoai tây.

Khương Tảo thỉnh thoảng dùng kẹp lật qua lật lại.

Trong phòng ánh sáng lờ mờ, Khương Ngũ Ni đeo kính lão, gọng kính bị gãy khi làm việc lần trước nên phải quấn vải lại.

Tay bà cầm cây kim thêu, nhíu mày, cẩn thận xuyên kim qua tấm da thỏ đã được thuộc kỹ, không dám thở mạnh.

Sau mấy ngày miệt mài nỗ lực.

Tấm da thỏ trong tay bà đã ra dáng cái khăn quàng cổ.

"Tiểu Di, lại đây."

Lý Di đang nằm bò ra bàn bên cạnh làm bài tập, nghe thấy bà gọi, ngẩng đầu lên.

"Bà ạ."

"Thử xem cái khăn này vừa không."

Khương Ngũ Ni quàng da thỏ lên cổ cô bé, đầu kia lấy kéo cắt một lỗ, vừa vặn luồn qua.

Bà lộ vẻ hài lòng.

"Cũng tạm được, dài thêm tí nữa thì tốt hơn, chỗ này thôi mà phải khâu nối bốn tấm da đấy."

Khương Tảo lật củ khoai nướng, lơ đễnh nói một câu.

"Của cháu đâu?"

"Chỉ có mấy con thỏ, cổ cháu dài ngoằng, mười tấm da cũng không đủ cho cháu dùng!"

Khương Ngũ Ni lườm cô một cái, bực dọc nói.

Lý Di định tháo ra: "Chị ơi, cho chị đeo này."

Khương Ngũ Ni vội vỗ tay cô bé: "Không cho không cho, chị Khương đùa cháu đấy, đợi mấy hôm nữa thịt thỏ rồi bà làm cho mấy đứa cái bọc đầu gối, trời lạnh thế này, mấy đứa ngày nào cũng chạy lên núi, đầu gối nhiễm khí lạnh là đau chân đấy."

Lý Di nhìn Khương Tảo, thấy cô cười nhạt, biết cô không giận, trong lòng cũng nhẹ nhõm hẳn.

"Vâng ạ, nhưng bây giờ trời lạnh thỏ không ra ngoài nữa rồi, nếu không cháu còn săn thêm được mấy con nữa."

Đang nói chuyện, cửa nhà chính bị đẩy ra.

Văn Chiêu mang theo hơi lạnh vén rèm bước vào, tay xách một cái thùng sắt, bên trong chất đầy củi đã chẻ nhỏ, lúc nói chuyện, hơi thở phả ra làn khói trắng nhanh chóng tan biến trong không khí.

"Củi sắp hết rồi, dạo này dùng nhiều, mai lên núi phải nhặt nhiều chút."

Khương Tảo thấy Văn Chiêu lạnh cóng, tay cũng đỏ ửng, cầm củ khoai nướng bên cạnh ném cho cô ấy.

"Sưởi ấm đi."

"Ôi, nóng quá!"

Văn Chiêu đón lấy, đảo qua đảo lại trên tay, ngồi xuống bên cạnh cô, nghiêng người xem Lý Di viết chữ.

"Chà, học đến 'Thiên sơn điểu phi tuyệt, vạn kinh nhân tung diệt' rồi à, bài thơ này hợp cảnh thật, bên ngoài tuyết đang rơi đấy."

Lời editor: 'Thiên sơn điểu phi tuyệt, vạn kinh nhân tung diệt' "千山鸟飞绝,万径人踪灭" đây là hai câu thơ trong bài thơ "Giang Tuyết" của Liễu Tông Nguyên thời Đường.

Dịch nghĩa: "Trên ngàn ngọn núi, chim bay đã tuyệt bóng. Trên vạn con đường, dấu chân người đã vắng tanh."

Dịch thơ (Bản dịch nổi tiếng của Tản Đà): "Nghìn non mất bóng chim bay, Muôn con đường tắt dấu giày tuyệt không."

Khương Tảo đứng dậy, ghé sát cửa sổ.

"Thật hay đùa đấy, tuyết rơi rồi sao?"

Từ khi trời trở lạnh, đêm càng ngày càng dài, thời gian họ ra ngoài lao động và săn bắn mỗi ngày cũng buộc phải rút ngắn.

Lý Di bắt đầu luyện chữ từ chiều, sớm đã không ngồi yên được nữa, cũng chạy tới.

Khương Tảo dùng lòng bàn tay lau lớp sương mù trên kính, nhìn chút ánh đèn từ trong nhà hắt ra sân, tuyết vừa rơi chưa lâu, trên mặt đất phủ một lớp mỏng, như rải một lớp sương bạc.

"Thành phố Lâm Hải chẳng bao giờ có tuyết, chỉ có mùa đông hàng năm về quê mới được ngắm tuyết thôi."

"Thế thành phố Lâm Hải có gì ạ?"

"Có nhà cao tầng, còn có đường bờ biển dài bất tận."

Trong mắt Lý Di lộ vẻ ao ước.

"Mẹ bảo biển đẹp lắm, nhưng em chưa được thấy bao giờ."

Văn Chiêu đi tới, xoa đầu cô bé.

"Đợi mạt thế kết thúc, là có thể đi ngắm biển rồi."

Nhìn những bông tuyết lớn như lông ngỗng ngoài cửa sổ, Khương Ngũ Ni lại lộ vẻ lo âu.

"Trung Thu vừa qua không lâu, mà tuyết đã rơi lớn thế này, mùa đông năm nay e là khó sống đây."

Lý Di ngẩng đầu lên nhìn họ, trong mắt ánh lên vẻ không sợ trời không sợ đất.

"Chỉ cần được ở bên bà và các chị, em chẳng sợ gì hết!"

Văn Chiêu lại xoa đầu cô bé.

"Đúng, mùa đông lạnh thôi mà, có gì đáng sợ đâu."

Khương Tảo quay đầu lại: "Ngoài tích trữ củi ra, chúng ta cũng phải đẩy nhanh tốc độ dự trữ lương thực cho mùa đông và quần áo ấm nữa."

Văn Chiêu gật đầu: "Tôi cũng nghĩ thế, mai đi đốn củi tiện thể qua chỗ cái bẫy tôi đặt lần trước xem sao, mấy ngày nay chúng ta tranh thủ thời gian lục soát lại trong thôn một lần nữa."

Khương Tảo lại nhét thêm mấy thanh củi to vào lò.

"Ngủ đi, mai còn phải dậy sớm."

Tuyết rơi cả đêm, sáng hôm sau bên ngoài đã là một màu trắng xóa, phía đông vừa hửng sáng.

Văn Chiêu đang xúc tuyết trên ban công, Khương Ngũ Ni nấu xong bữa sáng, Khương Tảo lên gọi cô ấy, thấy cô ấy cầm xẻng, mắt lại nhìn ra ngoài.

"Nhìn gì thế?"

"Bây giờ là mấy giờ rồi?" Văn Chiêu nhìn chằm chằm hướng xác sống tản đi.

Khương Tảo nhìn đồng hồ: "Hơn sáu giờ, chưa đến bảy giờ."

"Bọn chúng về tổ sớm hơn mọi khi rồi, hôm nay trời còn có nắng nữa, mùa đông đâu phải ngày nào cũng có nắng đâu."

Khương Tảo nhìn ráng hồng lờ mờ phía chân trời, trầm ngâm một lúc: "Chẳng lẽ bọn chúng cũng sợ lạnh?"

"Có khả năng, virus Pandora tuy cường hóa các chức năng cơ thể của chúng, nhưng suy cho cùng vẫn là máu thịt, chỉ cần là động vật có vú thì khó mà thoát khỏi sự chế ước của gen di truyền."

Khương Tảo: "Phát hiện thú vị đấy, nhưng chúng ta phải ăn cơm thôi, lát nữa còn đi săn."

Văn Chiêu đặt xẻng xuống: "Đến ngay đây."

Mùa đông đến rồi, ngoài xác sống ra, Khương Ngũ Ni cũng chẳng muốn động đậy: "Các cháu đi đi, bà không đi đâu, bà ở nhà xới lại mảnh vườn một chút, hôm qua tuyết vừa rơi xong."

Khương Tảo biết bà bị bệnh đau đầu gối do lao động quanh năm suốt tháng: "Dán thuốc dán vào, để đấy đợi bọn cháu về làm cho."

Khương Ngũ Ni miệng thì đồng ý, nhưng đợi họ đi rồi, bà vẫn sẽ làm việc, vì vậy Khương Tảo cũng chẳng hy vọng khuyên được bà.

"Khóa kỹ cổng sân, để lại cho bà một cái bộ đàm, có việc gì ấn một cái là được, cháu dạy bà rồi đấy."

Khương Ngũ Ni gật đầu lia lịa, người già hay quên, Khương Tảo lại kéo bà làm mẫu mấy lần mới yên tâm, đeo cung tên dắt Cola ra khỏi nhà.

Hôm qua tuyết rơi một đêm, đường núi buổi sáng có chút gập ghềnh khó đi, giẫm một cái là ngập đến bắp chân.

Cả nhóm bước thấp bước cao di chuyển, nhiệt độ trong núi rất thấp, ai nấy đều đội mũ trùm đầu, nhưng má vẫn đỏ ửng vì lạnh.

"Xem ra mấy ngày nữa tuyết phủ kín đường núi, ngay cả lên núi săn bắn cũng thành chuyện khó."

Văn Chiêu đi trước, vừa mở miệng nói là hơi trắng đã tan biến ngay.

"Hơn nữa trời lạnh thế này, động vật cũng chẳng ra ngoài đâu." Khương Tảo đã tính toán, đợi trời lạnh hẳn, vẫn phải vào thành phố tìm thức ăn.

Chỗ đặt bẫy cách con suối không xa, mỗi sáng sớm hoặc hoàng hôn, động vật luôn tìm đến nguồn nước để uống và nghỉ ngơi, đó là tập tính của chúng.

Qua những ngày tháng rèn luyện này, Lý Di tuy tuổi còn nhỏ, nhưng cũng đã là một thợ săn thành thục.

Cô bé nhìn một cái là nhận ra sợi dây giấu trong bụi cây bị đứt, thức ăn đặt trong bẫy lại không thấy đâu.

Lý Di chạy chậm lại gần, bới tuyết ra xem, thất vọng tràn trề, trên bãi cỏ khô vàng chỉ còn lại vài cái lông vũ.

"Em còn tưởng bắt được gà rừng, kết quả chẳng có gì."

Văn Chiêu nhặt đầu dây bị đứt lên.

"Cái này hình như bị con gì cắn đứt, gà rừng không làm được đến mức này đâu."

Khương Tảo quan sát xung quanh, vẻ mặt có chút cảnh giác.

"Chúng ta đến muộn rồi, xem ra bị con gì đó nhanh chân đến trước."

"Khó nói là con gì, nhưng tóm lại chắc chắn là động vật ăn thịt, mới có bộ răng này."

Dây thừng Văn Chiêu dùng làm bẫy, là lấy từ chỗ Khương Tảo, loại dây nilon dùng để buộc đồ dã ngoại.

Khương Tảo gật đầu: "Cẩn thận một chút."

Chỗ này cách con suối không xa, nước sông vẫn chưa đóng băng hoàn toàn, vẫn nghe thấy tiếng nước chảy róc rách.

Văn Chiêu nhìn những dấu chân hỗn loạn trên tuyết xung quanh, bỗng nảy ra ý tưởng: "Cũng không phải hoàn toàn không có thu hoạch, mọi người nhìn xem."

Ngoài dấu chân của nhóm họ và dấu chân của Cola, còn có mấy hàng dấu móng guốc in sâu, nhờ trận tuyết lớn đêm qua mà chúng hiện lên rất rõ ràng.

Văn Chiêu ngồi xổm xuống, dùng tay đo đạc: "Giống dấu chân dê rừng, còn lẫn cả phân mới, chắc là sáng nay thôi."

Khương Tảo lấy cung tên trên lưng xuống: "Đi theo xem sao."

_____

Lời tác giả:

Đời người hiếm khi được vui vầy sum họp, chỉ có nỗi biệt ly là nhiều khôn cùng. 

Thuở đầu chưa hiểu tình trong khúc, nghe lại đã là người trong cuộc.

Trước Tiếp