Sau Khi Chết, Kẻ Thù Đốt Hương Mười Năm Cho Ta

Chương 95: Ngoại truyện 3

Trước Tiếp

Thời gian thấm thoắt thoi đưa, người đẹp như hoa. 

Thiếu nữ mười bốn tuổi gương mặt rạng rỡ, nụ cười vô ưu vô lo, cùng đám tiểu nha hoàn chơi đùa vui vẻ. Lúc đang chơi hăng say nhất, nàng cũng chẳng để ý đến búi tóc đen nhánh đã lệch sang một bên.

Dưới bóng cây nơi hành lang trăm nhịp, Thẩm phu nhân lặng lẽ quan sát hồi lâu. 

Nữ tì thân cận đứng bên cạnh suy nghĩ một lát rồi đề nghị: 

“Phu nhân ngày xưa thi thư cũng từng đứng đầu kinh đô, hay là người đích thân dạy tiểu thư là được rồi.”

Thẩm phu nhân xoa xoa chân mày đang nhíu chặt, khẽ lắc đầu: 

“Ta quản lý việc trong nhà, mọi chuyện lớn nhỏ trong tộc trong phủ đều đến tay, giờ làm gì có thời giờ đó.” 

Ánh mắt bình thản của bà thoáng hiện vẻ bùi ngùi, nhàn nhạt nói: 

“Năm tháng qua đi, mọi thứ đều đã mai một cả rồi, toàn là những thứ vô dụng.”

Bà khẽ lay chiếc quạt tròn, ngước mắt nhìn lên bầu trời bị bốn bức tường cao vây bọc, dường như đã hạ quyết tâm: “Gửi một phong bái thiếp đến thư viện Lan Nhược.”

Nghe thấy cái tên này, nữ tì hơi sững sờ, cẩn thận hỏi: “Đã bao nhiêu năm rồi không nghe phu nhân nhắc đến thư viện ấy. Thư gửi đi có ký danh Thẩm phủ không ạ?”

“Đừng dùng danh nghĩa Thẩm phu nhân. Cứ nói là…” Ánh mắt Thẩm phu nhân trở nên xa xăm, giọng nói nhỏ nhẹ nhưng trịnh trọng: “Tạ Tam nương vùng Trần Quận có việc cầu xin.”

Nữ tì đi truyền lệnh. Bà lại thấy phu nhân nhíu đôi mày thanh tú, rồi dửng dưng xoay người đi về phía cũ. Thanh âm bình thản như mặt nước lặng vang lên giữa hành lang tĩnh mịch: 

“Còn nữa, chuyện tuyển phi vào cung, khoan hãy cho Thập Nhất nương biết. Chuẩn bị cho con bé mấy bộ nam trang. Nó sắp phải đi cầu học phương xa rồi.”

Trời sầm sì u ám, lời nói nhẹ tênh vừa dứt đã bị tiếng sấm rền vang vùi lấp.

Thẩm Thập Nhất nương bị tiếng sấm đánh thức, vẻ mông lung trước mắt đọng lại thành quầng sáng của ánh nến. Ngước đầu lên, trang sách trên bàn đã bị vệt nước dãi thấm ướt một mảng. Nàng lại ngủ quên khi đang đọc sách.

Suốt một ngày đường mới đến được thư viện Lan Nhược nằm ở lưng chừng núi. Dù được ngồi xe ngựa bốn ngựa kéo rộng rãi, nàng vẫn cảm thấy mệt lử, lưng mỏi chân đau. Hôm nay vừa tới thư viện, mai đã phải gặp phu tử rồi, phải tranh thủ học thuộc thêm vài bài, không thể làm mất mặt nhà họ Thẩm.

Thế nhưng tâm trí nàng không sao tập trung vào trang sách được. Nhất định là do dải vải quấn ngực quá chặt, khiến nàng không thở nổi. Nàng thầm nghĩ. Đêm khuya tĩnh lặng, xung quanh không một tiếng động. Trong gian Tàng Thư Các hẻo lánh này chỉ có một mình nàng là học trò.

Nàng lén nới lỏng dải vải quấn ngực, thở phào một hơi nhẹ nhõm, còn khẽ ợ một cái rõ to. 

Cuối cùng cũng thoải mái hơn nhiều, nàng mân mê dải lụa, thầm nghĩ: Thế này liệu có ổn không nhỉ?

Lúc mới đến bái kiến phu nhân Viện sĩ, bà chỉ nhìn nàng vài cái đã mỉm cười lắc đầu, đuổi hết tiểu sai đi rồi nói toạc ra thân phận nữ nhi của nàng. Mẹ nàng trước lúc đi đã dặn đi dặn lại nghìn lần, bảo nàng tuyệt đối không được để đàn ông phát hiện thân phận nữ nhi, nếu không, một khi truyền ra ngoài, cha nàng nhất định sẽ nổi lôi đình. Nghĩ đến khuôn mặt râu ria dựng ngược của cha, nàng sợ đến mức rùng mình.

May sao phu nhân Viện sĩ đưa nàng đến Tàng Thư Các, bảo nàng cứ nghỉ lại đây, không cần ở chung với các nam sinh khác trong thư viện. Chỉ cần cùng lên lớp nghe giảng, chắc là sẽ không bị phát hiện đâu nhỉ?

Thẩm Thập Nhất nương khẽ thở dài, nhìn ra bóng đêm ngoài cửa sổ của thư viện Lan Nhược. Vạn vật lặng ngắt, những tán lá rậm rạp đổ bóng đen ngòm trước cửa, rêu xanh bò đầy bậu cửa sổ, tỏa ra ánh sáng u tối ảo mị. Những tiếng động thê lương mơ hồ vọng lại, chẳng biết là tiếng gió rít trong núi sâu hay tiếng sói hú.

Ngọn nến khẽ đung đưa làm ánh sáng mờ đi, nàng bất giác nhớ đến lũ ma quỷ trong các cuốn thoại bản, sợ hãi lùi lại phía sau, vừa vặn ngã nhào xuống chiếc giường thấp sau lưng. Trên giường sạch sẽ ngăn nắp, không có mùi hương thơm quý giá mà chỉ có mùi xà phòng thanh khiết nhàn nhạt, một mùi hương xa lạ nhưng lại khiến nàng cảm thấy an tâm một cách lạ kỳ.

Chuyến đi này nàng cải trang nam nên không thể mang theo nha hoàn thân cận, phu nhân Viện sĩ đã sắp xếp tất cả, ngay cả giường chiếu cũng đã trải sẵn cho nàng. Thẩm Thập Nhất nương tung tấm chăn mềm mại ra, tự do lăn lộn mấy vòng trên đó, cuối cùng thoải mái vùi đầu vào trong chăn.

Đúng lúc này, cửa Tàng Thư Các mở ra. Một luồng sáng từ bóng đêm vô tận chiếu vào. 

“Két —— Két ——” 

Tiếng bước chân trầm ổn chậm rãi vang lên trên mặt sàn gỗ nan mộc cũ kỹ, kèm theo tiếng chuông nhỏ thanh tao ngân vang trong tĩnh lặng.

Nghe thấy tiếng động, nàng ngơ ngác ngước đầu ra khỏi chăn. Chỉ thấy một bóng người cao rầy tay cầm đèn nến, đang đi xuyên qua tầng tầng lớp lớp giá sách u ám, mang theo hơi sương lạnh lẽo tiến về phía nàng. Ánh nến lúc tỏ lúc mờ, bóng người khi hiện khi ẩn, xuyên qua giữa vùng sáng tối mịt mờ.

Thẩm Thập Nhất nương trợn tròn mắt, thấy trên ngực người đó có mấy vết sẹo dữ tợn. “Có quỷ!”

Nàng lấy chăn trùm kín nửa đầu. Nghe thấy tiếng hét, người vừa đến sững lại, dường như hoàn toàn không ngờ tới nàng lại ở đây, bèn cầm lồng đèn rảo bước tiến lại gần. Vòng qua giá sách cuối cùng, người đó dừng bước, chậm rãi ngước mắt nhìn nàng ở cuối giá sách.

Như điện chớp sương tan, hai bên đờ người nhìn nhau suốt một lúc lâu. Thẩm Thập Nhất nương lúc này mới phát hiện người tới là một nam tử trẻ tuổi. 

Có con quỷ nào mà đẹp trai như vậy không? 

Nàng nghiêng đầu nhìn xuống, thấy đôi bàn chân dưới tà áo trắng đang giẫm trên mặt đất, bóng đổ dài trên sàn nhà theo ánh nến. Không phải quỷ. Có bóng cơ mà.

Trong đêm đầu hạ, hắn chỉ mặc một chiếc áo lót giặt đến bạc màu, khoác lỏng lẻo trên thân hình gầy gò, trông như một bóng trắng đi đêm. Bên hông treo một chiếc chuông đồng nhỏ, mỗi bước đi đều vang lên tiếng lanh lảnh. Hắn đạp bóng đêm mà đến, sau lưng là cảnh núi non ngoài cửa, mà đôi lông mày hắn chính là nét bút đậm nhất trong bức tranh thủy mặc ấy. Ánh nến trong tay hắt vào đôi mắt đen trắng phân minh, như đọng lại một lớp nước dịu dàng, trầm mặc như đêm, sáng rực như sao.

Không phải quỷ, nhưng là đàn ông lạ! Nàng sực tỉnh, bắt đầu cảnh giác, cuống cuồng giấu dải vải quấn ngực đang tháo dở ra sau lưng, tiện tay lấy chiếc gối mềm trên giường ném vào người hắn, lớn tiếng quát: 

“Ngươi là ai? Tại sao cố ý dọa người?”

“Dọa người?” Nam tử điềm nhiên đón lấy chiếc gối ném tới, giọng nói nhàn nhạt: “Chẳng biết là ai mới lén lút trốn trong chỗ ở của ta đây.”

Nam tử quay lưng lại, đặt đèn nến và xấp sách kẹp dưới nách lên bàn, đứng ngược sáng nên không nhìn rõ thần sắc. “Ngươi mới lén lút ấy, vào cửa mà chẳng thèm gõ cửa gì cả.” 

Nàng thấy mình không đuối lý bèn lớn gan nói: 

“Tàng Thư Các này là phu nhân Viện sĩ cho ta ở, nó là của ta.”

Đôi lông mày đen nhánh của nam tử khẽ nhướn lên, liếc nhìn nàng đang quấn chặt trong chăn. Nàng quấn chăn càng chặt hơn để tránh bị hắn nhìn thấy bộ dạng không có vải quấn ngực. 

Hắn nhanh chóng thu hồi ánh mắt, khẽ cười: “Vậy ngươi nằm trên giường của ta làm gì?”

Của hắn? Giường này là của hắn? 

Thẩm Thập Nhất nương giật nảy mình, suýt nữa nhảy dựng lên khỏi giường, tấm chăn trượt xuống lại được nàng túm lấy che trước ngực, vội vàng quay lưng đi. 

Phen này đến lượt nàng xấu hổ.

Mặt nàng nóng bừng, hạ giọng nhưng khí thế không chịu thua, chất vấn: “Ngươi là ai, sao lại ở đây?”

Nam tử bình tĩnh nhìn nàng, nói: “Ngươi là người mới đến phải không? Tàng Thư Các này vốn là nơi ta thường xuyên ôn bài đêm khuya.”

Hóa ra chiếc giường thấp mà nàng vừa ngủ chính là chỗ nằm sàn của hắn. Thẩm Thập Nhất nương ngửi thấy mùi xà phòng giống hệt trên người mình, mặt đầy ngỡ ngàng. 

Nàng lí nhí nói: “Hiểu lầm, chỉ là hiểu lầm thôi… Ta hôm nay mới tới thư viện, không biết đây là chỗ ở của ngươi.”

Nghĩ đến lời cảnh báo của mẹ, nàng siết chặt dải vải quấn ngực giấu sau lưng, lại lên giọng: “Nhưng ngươi không được ngủ ở đây nữa. Phu nhân Viện sĩ đã cho ta chỗ này rồi, ngươi không được vào.”

Nam tử bật cười, khẽ lẩm bẩm một mình: “Đúng là bá đạo thật.” 

Ánh mắt lạnh lùng của hắn quét qua, nhìn nàng chăm chú rồi nói: “Ta chỉ muốn tìm một nơi yên tĩnh để đọc sách. Ngươi có thể cho phép ta ở bên ngoài Tàng Thư Các, chỉ cần để lại ngọn nến này là được chứ?”

Người này đúng là hiếu học thật. Nàng suy nghĩ một chút rồi gật đầu đồng ý: “Cũng được.” 

Dù sao nàng cũng sợ bóng tối, ở nhà cũng phải thắp nến mới ngủ được.

“Đa tạ.” 

Nam tử cuộn xấp sách bước ra ngoài, lúc đi không kìm được quay lại nhìn nàng một cái, không nhìn đường nên va phải giá sách, hắn rên khẽ một tiếng, vội vàng đỡ lấy chồng sách sắp đổ.

Đúng là đồ ngốc. 

Thẩm Thập Nhất nương bịt miệng cười trộm, không nhịn được hỏi: 

“Này, ngươi tên gì?” 

“Tại hạ họ Cố, hàng thứ chín. Vị tiểu… tiểu đệ này xưng hô thế nào?” 

“Ta họ Thẩm, hàng thứ mười một, ngươi cứ gọi ta là Thẩm Thập Nhất là được rồi.”

Cách một cái giá sách, hai người trao đổi tên họ. Cố Cửu nâng ống tay áo chắp tay hành lễ, nàng định nhún người đáp lễ nhưng sực nhớ ra thân phận hiện tại, bèn học theo tư thế của nam tử, cũng ra vẻ chắp tay ôm quyền đáp lại.

Nhìn quanh những bóng đen đổ xuống từ các giá sách cao lớn, nàng không khỏi rùng mình, chợt gọi với theo bóng lưng hắn: “Ngươi… ngươi không được đi xa, cứ ở ngay cửa mà đọc sách nhé.”

Cố Cửu dừng bước, quay đầu, tà áo trắng bay nhẹ trong gió đêm, giọng nói trầm ấm vọng lại: “Sao vậy?” “Ta sợ… Ta sợ có ma. Tàng Thư Các này cứ âm u thế nào ấy.” Nàng chỉ vào khoảng không bốn phía, những giá sách cao vút trông như những bóng ma trập trùng.

Nam tử im lặng hồi lâu rồi bước ra ngoài, đóng cửa lại. Ánh nến xuyên qua giấy dán cửa sổ, dần hiện lên một bóng người nghiêng nghiêng. Tấm lưng thẳng tắp như tùng như trúc, ánh nến tạc nên đường nét trầm mặc uy nghiêm của hắn. Cái tên mọt sách này trông thì có vẻ khờ khạo, nhưng xem ra người không xấu. 

Đêm hạ sấm rền ầm ì, Thẩm Thập Nhất nhìn chằm chằm vào bóng người đang đọc sách ấy, trái tim đang nhảy loạn dần bình lặng lại, cuối cùng cũng yên tâm chìm vào giấc ngủ.

Nàng ngủ một mạch đến tận sáng bạch. Vừa tỉnh giấc đã phát hiện hỏng bét. Sắp muộn rồi! Sao buổi học đầu tiên lại có thể đến muộn được chứ. Nàng chạy thục mạng vào thư viện, chẳng kịp ngạc nhiên sao mình lại thông thạo đường xá đến thế. Khi tới đại giảng đường, vị phu tử đại nho râu tóc bạc phơ đã bắt đầu giảng bài. Nàng thầm kêu khổ, khom lưng cúi đầu, lặng lẽ lẻn vào trong, lần mò ngồi xuống chiếc bàn trống ở cuối hàng.

May mà không ai phát hiện. Nàng quay đầu định ngồi xuống thì thấy người ngồi bên cạnh chính là Cố Cửu đã giữ cửa cho nàng đêm qua. Hắn cũng thấy nàng, khẽ gật đầu chào. Nàng chỉnh lại chiếc mũ lộn xộn vì chạy nhanh, cũng gật đầu chào lại, mỉm cười đầy áy náy. Ngờ đâu lúc sơ ý, góc bàn dưới chân khẽ lung lay, nghiêng về phía trước đụng trúng bạn học phía trước. 

Thẩm Thập Nhất vội vàng giữ bàn lại, chắp tay tạ lỗi với người đó: 

“Thất lễ, thật là thất lễ quá.”

Vị thư sinh phía trước mặc áo gấm hoa dệt, khoác lớp lụa mỏng, diện mạo thanh tú yếu ớt. Hắn quay đầu nhìn nàng một cái, rồi nhìn quanh với ánh mắt kỳ lạ, chẳng thèm đáp lại một câu mà quay phắt lên. Nàng bùi ngùi ngồi xuống, lại thấy Cố Cửu mím môi cười thầm, ngón tay thon dài lật trang sách, chỉ chỉ vào trang đó cho nàng từ xa. Hóa ra phu tử vừa giảng bài vừa đi về phía nàng, nàng vội vàng lật đến trang hắn chỉ, cũng gật gù ra vẻ, cùng các học tử khác đọc theo.

Cả buổi học trôi qua coi như không có sóng gió gì. Thẩm Thập Nhất nương hễ cứ nhìn vào sách là buồn ngủ. Nhưng giữa ban ngày ban mặt, nắng nôi rạng rỡ, tại sao nàng lại buồn ngủ đến thế nhỉ? Đang thắc mắc, giữa tiếng đọc sách vang rân cả gian phòng, đầu nàng gật lên gật xuống, rồi chẳng biết từ lúc nào lại ngủ thiếp đi.

Chẳng biết qua bao lâu, Thẩm Thập Nhất bị đánh thức bởi một trận cãi vã. Mắt nhắm mắt mở, nàng thấy trong giảng đường vắng tanh, ngoài cửa trời đã ngả bóng chiều tà. Nàng toát mồ hôi lạnh, chẳng biết mình đã ngủ quên mất mấy tiết học rồi, mà lạ là phu tử cũng chẳng phạt nàng. Nàng dọn dẹp sách vở vào tráp, đi ra ngoài. Đi chưa được mấy bước đã thấy một nhóm người đang đứng ở bãi đất trống trước giảng đường, vây quanh một bóng người quen thuộc.

Dưới bậc thềm, sách vở rơi vãi đầy đất. Những cuốn sách bằng giấy thô, không phải loại giấy quý giá mà con em thế gia thường dùng. “Con của vũ kỹ mà cũng muốn mạo danh, giả làm huyết mạch nhà họ Cố. Loại người này cũng xứng vào thư viện học hành sao?” 

“Đọc sách thì có tác dụng gì, đọc nhiều đến mấy cũng chẳng đổi được cái gốc gác hèn kém.”

“Nghe nói hắn từng thi đỗ rồi, sao lại quay về đây?” 

“Nói nhảm, sao có thể chứ… Quay về thì cũng chỉ làm tạp dịch cho thư viện thôi.”

Trong ánh mắt khinh bỉ xung quanh, giữa những lời nhục mạ chế giễu ghét bỏ, Cố Cửu không màng tới. Hắn chỉ lặng lẽ nhặt những cuốn sách vãi trên bậc thềm lên, phủi sạch bụi bẩn, rồi lại kẹp dưới nách như thường lệ, quay lưng bỏ đi. Ánh mắt thẳng tắp, dường như đã quá quen với việc này.

Thẩm Thập Nhất ngẩn người một lát, nhớ đến người đọc sách đêm qua đã nhường Tàng Thư Các cho nàng, và bóng lưng luôn thẳng tắp ngoài cửa kia. Chẳng biết dũng khí từ đâu đến, nàng đột nhiên rẽ đám người đang xem náo nhiệt ra, lao về phía hắn. Nàng chạy rất nhanh, mang theo một luồng gió mạnh, xô đẩy tất cả các học tử bên cạnh, khiến sách trên tay họ như bị những luồng gió thổi rơi xuống đất. Đi đến đâu là giấy bay tứ tung đến đó. 

“Cái người này làm sao vậy, sao lại đẩy ta?” 

“Không phải ta, là ngươi đẩy ta mới đúng…” 

Một đám người nhìn nhau ngơ ngác, đành phải cúi người quỳ gối trên bậc thềm để nhặt sách rơi. Trông cứ như đang quỳ lạy nàng và Cố Cửu vậy.

“Cố huynh, này, Cố huynh đợi ta với… đợi ta với.” 

Nàng sải bước đến bên cạnh hắn, nói: 

“Ngươi… ngươi về Tàng Thư Các hả? Ta cũng về đó. Hay là cùng đi đi.” 

Cố Cửu chậm rãi quay người lại, không nói gì, đôi môi mỏng khẽ nhếch lên một đường cong đẹp mắt, ánh sáng lạnh lẽo trong mắt dần trở nên dịu dàng.

Cùng nhau trở về Tàng Thư Các, Cố Cửu đặt sách xuống, bắt đầu lau sàn phơi sách, bận rộn không ngơi tay. Thẩm Thập Nhất nhìn hắn đi tới đi lui, nghe hắn nói: 

“Nhà nghèo, không trả nổi học phí và tiền phòng của thư viện, Viện sĩ cho phép ta đọc sách ở đây, mỗi ngày phải lau dọn Tàng Thư Các, đêm thì ngủ dưới sàn.”

Hắn giải thích như để xóa tan mọi thắc mắc của nàng. Ở triều Đại Ngụy, con em thế gia chỉ cần có sự che chở của tổ tông, cha anh nói một lời là có thể làm quan, còn con em hàn môn chỉ có con đường khổ học mười mấy năm mới có một tia cơ hội bước vào chốn quan trường.

Hôm qua lúc nàng mới đến, gia nhân đã dâng lên mười hòm học phí, khiến phu tử cũng phải khép nép gật đầu. Khổng phu tử tuy nói dạy dỗ không phân biệt hạng người, nhưng học phí đắt đỏ của thư viện không phải gia đình bình thường nào cũng gánh nổi. Hắn bình thản nói ra chuyện chỉ có thể ngủ ở Tàng Thư Các, nàng nghe mà thấy ái ngại giùm, nhưng giọng hắn vẫn trầm ổn, sắc mặt không hề thay đổi. 

Đây là lần đầu Thẩm Thập Nhất ra khỏi nhà, nàng chưa từng thực sự gặp một người đọc sách chân chính nào. Thế nhưng nhìn thấy hắn, nàng chợt nhớ đến hai chữ “phong cốt” mà mẹ từng nhắc tới. Đây chính là cốt cách của người đọc sách.

Dọn dẹp xong thì trời đã tối hẳn, Cố Cửu thắp nến mang theo, dùng lồng chụp lại để soi sáng căn phòng u tối. Cố Cửu thu dọn cuốn sách cuối cùng định rời đi. 

Thẩm Thập Nhất có chút ngượng ngùng, không muốn hắn nghĩ mình ỷ thế h**p người, chiếm chỗ đọc sách của hắn, bèn lí nhí nói: 

“Nếu đã vậy, ta cũng phải đọc sách, hay là Cố huynh cứ ở đây cùng đọc sách với ta đi.”

Tay thu sách của Cố Cửu khựng lại, hắn ngước đầu nhìn nàng chăm chú. 

Như muốn hỏi: Sao vậy, không đuổi ta đi nữa à?

Ánh mắt hắn luôn có một sức xuyên thấu đáng sợ, Thẩm Thập Nhất gãi đầu, suy nghĩ một lát rồi ấp úng nói: 

“Mấy bài phu tử giảng hôm nay, có nhiều chỗ ta không hiểu lắm… Ngươi đọc nhiều sách, hay là ngươi dạy ta nhé?”

Cố Cửu dừng bước, nhìn nàng một hồi lâu, khóe môi khẽ mím lại như đang nhịn cười: “Nhưng chẳng phải ngươi đã ngủ mất nửa buổi học sao?” 

Nàng ngẩng cao đầu, dù bị vạch trần cũng không chịu mất khí thế, gắt gỏng: 

“Thì chính vì ngủ mất nửa buổi nghe không liên tục nên mới không hiểu mà… Cố huynh, ngươi không chịu dạy ta sao?” 

“Tất nhiên là không dám rồi.” 

Hắn lại nở nụ cười. “Hôm nay, buổi đầu tiên phu tử giảng về 《Kinh Thi》.” 

“Sống chết cách biệt, cùng người thề nguyện…”

Hắn đọc từng chữ từng câu, giải nghĩa cho nàng.

Nàng chống cằm, nghe mà như hiểu như không, nắn nót viết từng nét lên giấy để nghiền ngẫm. Thỉnh thoảng nàng viết sai chữ, hắn lại khoanh tròn lại, sửa đúng ở bên cạnh.

So sánh hai nét chữ, Thẩm Thập Nhất chân thành tán thưởng: 

“Cố Cửu, nét chữ của huynh đẹp thật đấy. Sao ta lại không thể viết được những chữ đẹp như thế này nhỉ?”

“Chữ viết là do tâm phát ra.” 

Hắn rủ mắt, ánh mắt dừng lại nơi trang giấy, trầm ổn không dời:

“Nét chữ cũng như lòng người. Đem những gì ngươi suy tư, mong mỏi ngưng tụ nơi đầu bút, lâu dần ắt sẽ viết được chữ đẹp.”

Nghe giọng nói thanh lãnh của hắn, Thẩm Thập Nhất lắng lòng tĩnh khí, dốc sức học viết chữ. Mẹ nàng thuở nhỏ đã viết chữ rất đẹp, ngay cả những bậc đại nho nhìn thấy cũng không ngớt lời khen ngợi. Trong lòng nàng chỉ có một ý niệm: Nếu nàng viết được chữ đẹp, mẹ chắc chắn sẽ vui lòng. Nàng cũng muốn trở thành niềm tự hào của mẹ.

Trong sự im lặng bao trùm của Tàng Thư Các, chỉ còn tiếng ngòi bút lướt trên giấy nhẹ nhàng, thi thoảng lại vang lên tiếng ho khẽ. Thẩm Thập Nhất nghe mà lòng thắt lại. Đêm trong núi sương lạnh giá buốt, hắn ở ngoài cả đêm hôm qua, liệu có bị nhiễm lạnh không? 

Nơi này vốn là của hắn, là nàng đã chiếm mất chỗ ngủ của hắn. Nghĩ vậy, nàng không khỏi nảy sinh vài phần áy náy.

Sau khi giảng xong vài bài, hắn thấy nàng bắt đầu ngáp ngắn ngáp dài, bèn gấp sách lại, nói: “Những gì ta giảng hôm nay hãy về tiêu hóa cho kỹ. Giờ không còn sớm nữa, nghỉ ngơi đi, sáng mai còn phải lên lớp. Nếu còn ngủ gật để phu tử bắt được, người nhất định sẽ phạt ngươi.”

Thẩm Thập Nhất quả thực đã buồn ngủ lắm rồi. Đầu nàng gục xuống cạnh đài đèn, ngọn lửa nến nổ lách tách, nàng xoa xoa trán, cũng không thấy đau. 

Nghe tiếng ho khẽ dần xa, nàng không nhịn được nói: “Cố huynh, huynh ho như vậy chắc chắn là bị cảm lạnh rồi, hay là… huynh cứ ngủ ở đây đi.”

Lời vừa ra khỏi miệng, nàng đã thấy hối hận. Sao có thể coi lời mẹ dặn như gió thoảng bên tai cơ chứ? Hắn là nam nhân lạ, nam nữ thụ thụ bất thân. Nếu chuyện này truyền đến tai cha, cây thước kia đánh xuống không tan nát thịt da mới lạ.

Gió đêm thổi nhẹ, người đàn ông đã đi được vài bước khẽ vén ống tay áo, quay người lại, nụ cười trên gương mặt lạnh lùng thoáng hiện: “Thẩm tiểu đệ, ngươi lại sợ ma sao?”

Mặt nàng lộ vẻ giận dữ nhưng trong lòng lại chột dạ. Trong lúc thẹn quá hóa giận, nàng lại ném chiếc gối về phía hắn. Cố Cửu giơ tay, quen thuộc đón lấy.

“Ta nói trước cho huynh biết, ta có thói quen giết người trong mộng. Huynh… huynh đừng có lại gần quá… nếu lại gần quá thì…” Tổng không thể thực sự giết hắn được. Thẩm Thập Nhất đang lưỡng lự thì mắt bỗng sáng lên.

Nàng giật lấy chiếc chuông đồng treo trên áo khoác của hắn, dùng một sợi dây mảnh xâu qua rồi căng ngang giường, lấy đó làm “Sở Hà Hán Giới”. 

“Huynh ngủ bên kia, ta ngủ bên này, ai cũng không được chạm vào chuông. Vạn nhất ai chạm vào thì phải… phải ra ngoài mà ngủ!”

Ngước lên nhìn, nàng thấy Cố Cửu khẽ nhíu mày, thở dài một tiếng đầy bất lực: “Ngươi có chịu ra ngoài ngủ không?” Câu nói dường như có ý chỉ rằng: bất luận ai làm chuông reo, cuối cùng người phải ra ngoài ngủ chắc chắn vẫn là hắn.

“Leng keng ——” 

Thẩm Thập Nhất vừa xâu xong chuông, ngờ đâu nàng còn chưa chạm vào mà chuông đã tự kêu lên, tiếng ngân vang không dứt. 

Nàng kinh ngạc vô cùng: “Cố huynh, chuông này của huynh ở đâu ra mà không chạm cũng kêu thế?”

Cố Cửu ngơ ngác nhìn chiếc chuông đang rung rinh, bất chợt thẫn thờ. Hồi lâu sau, hắn ngước mắt nhìn nàng, chậm rãi nói: “Là nhận được từ một đạo sĩ.” 

“Đạo sĩ nói, nghe tiếng chuông reo, ắt có quỷ gần kề.”

“Hả?…” 

Đôi mắt Thẩm Thập Nhất dần trợn tròn. Thấy vẻ mặt hắn nghiêm trọng, không có chút gì là đùa cợt, nàng nhìn quanh quất, suýt nữa thì rúc hẳn vào trong chăn, run giọng hỏi lại: 

“Ý huynh là… trong Tàng Thư Các này… có ma sao?”

Cố Cửu trầm ngâm hồi lâu rồi kể lại: Có rất nhiều thí sinh vì thi hỏng mà không còn mặt mũi về quê nên đã tự vẫn ở đây. Lại có những lão cống sinh râu tóc bạc phơ, năm này qua năm khác dùi mài kinh sử mà không đỗ, một ngày nào đó nghĩ quẩn bèn nhảy hồ tự tận. Nếu thế gian thực sự có quỷ, e rằng thư viện này linh hồn vất vưởng khắp nơi.

“Vậy… Cố huynh… huynh ở đây quanh năm, không sợ sao?” Giọng nàng run rẩy: “Vạn nhất có con ma nữ áo đỏ nào tới tìm huynh… Ta nghe trong sách nói, họ thích nhất là những người đọc sách như huynh đấy… Huynh nói xem lúc này, liệu có phải một trong số họ đã tới tìm huynh không?”

Giữa hơi thở dồn dập vì sợ hãi của nàng, hắn cúi đầu nhìn chiếc chuông, khẽ nói: “Chưa chắc đã là quỷ. Có lẽ chỉ là gió thổi thôi.”

Lời hắn vừa dứt, bên ngoài các đã vang lên tiếng bước chân. Quả nhiên là có “gió”, vì bên ngoài có người tới, gọi liên thanh: “Cố huynh, Cố huynh… huynh có đó không?”

Cố Cửu đã nhanh tay dập tắt ngọn nến cháy suốt đêm, đứng dậy mở cửa. Thẩm Thập Nhất theo bản năng chui tọt vào trong chăn trốn kỹ, chỉ để lộ một khe hở nhỏ để nhìn trộm.

Người tới chính là vị thư sinh bất lịch sự ngồi phía trước nàng hôm nay. Lúc này, hắn lại cung kính cúi chào Cố Cửu, đưa lên mấy cuốn sách lẻ tẻ, vội vã nói: “Hôm nay trên bậc thềm huynh đánh rơi vài cuốn sách, mấy tên tiểu nhân kia rảnh rỗi sinh nông nổi suốt ngày bắt nạt người khác, ta đã thu dọn lại mang đến cho huynh đây.”

Thư sinh này họ Trần, hàng thứ sáu. Tuy xuất thân thế gia nhưng không ham đọc sách, đã ở thư viện hai ba năm mà không tiến bộ chút nào. Dù hay lo chuyện bao đồng nhưng tính tình khá trượng nghĩa. 

Trần Lục Lang kiễng chân, nhìn qua vai Cố Cửu thăm dò vào bên trong Tàng Thư Các tối om. Hắn vừa đẩy người đàn ông đứng chắn trước mặt cứng như núi, vừa trêu chọc: 

“Sao ta vừa đến Cố huynh đã tắt nến rồi? Chẳng lẽ bên trong đang giấu giai nhân, hồng tụ thiêm hương cùng đọc sách đêm khuya sao?”

Thấy Cố Cửu im lặng, hắn càng thêm hứng thú và nghi ngờ, đột nhiên khom lưng, lách qua nách người đàn ông đi thẳng vào trong. Ánh mắt Cố Cửu thoáng hiện vẻ lạnh lẽo nhưng cũng không ngăn cản. Tim Thẩm Thập Nhất đập liên hồi như trống trận, ở trong chăn không ngừng lùi lại phía sau.

Trần Lục Lang liếc thấy chiếc giường thấp, đã có mục tiêu trong lòng, sải bước tiến thẳng về phía đống chăn đang cuộn tròn một cách bất thường. Thẩm Thập Nhất nhắm nghiền mắt, chưa kịp nghĩ ra lời giải thích nào thì góc chăn phủ trên đầu đã bị tốc lên một góc. Ánh trăng thanh khiết chiếu vào, mặt đất trắng xóa như phủ sương.

Bốn mắt nhìn nhau suốt một hồi lâu. Trần Lục Lang rõ ràng khựng lại một chút, rồi tung hẳn chăn ra, lật qua lật lại. Cuối cùng, ánh mắt Trần Lục Lang lướt qua người nàng, chỉ dừng lại ở giữa giường nơi sợi dây chuông đồng vắt ngang, đưa tay gảy nhẹ một cái: 

“Thú vị. Cố huynh đúng là có phong vị riêng.”

“Trần Lục, ngươi muốn làm gì?” 

Phía bên kia vang lên giọng nói hơi lạnh của Cố Cửu, mang theo hơi giá buốt. 

“Không có gì. Làm phiền rồi, làm phiền rồi.” 

Trần Lục biết hắn đã không vui bèn chắp tay xin lui. “Người quái dị. Đúng là quái nhân.” 

Trước khi đi, hắn còn liếc nhìn gương mặt nghiêm nghị của Cố Cửu, lắc đầu liên tục với ánh mắt đầy thương cảm, lẩm bẩm: “Đừng có vì đọc sách mà hóa ngốc nhé.”

Sau khi người đó đi xa, Thẩm Thập Nhất mới bình tâm lại. Nàng chợt nhớ mình đang cải trang nam, đêm tối mịt mù, Trần Lục Lang chưa chắc đã phát hiện ra mình. Mà dù có phát hiện, chắc cũng tưởng Cố Cửu có sở thích “đoạn tụ”. 

Thật xin lỗi nhé, Cố Cửu.

Nàng muốn cười nhưng lại thấy ái ngại thay hắn, vội xua tay nói: “Ta buồn ngủ rồi, ngủ thôi ngủ thôi. Huynh đừng quên quy định đấy nhé…” Nói xong, nàng lại chỉ tay vào chiếc chuông đồng vẫn đang rung khẽ ở giữa.

Người đàn ông “ừ” một tiếng, ôm lấy một tấm chăn khác ngồi xuống phía bên kia giường. Do dự hồi lâu, hắn mới chậm rãi cởi bỏ ngoại bào, chỉ mặc trung y, thân hình cứng đờ nằm xuống. Hơi thở đàn ông lạ lẫm và hùng tráng bao trùm không gian chật hẹp của chiếc giường.

Thẩm Thập Nhất vội nhắm mắt, nhưng trong bóng tối của tâm trí vẫn hiện lên hình ảnh đôi vai rộng, vòng eo săn chắc và đường nét rõ ràng dưới lớp trung y mỏng manh của hắn… Rõ ràng không có ai chạm vào nhưng chiếc chuông đồng vẫn không ngừng rung động, như thanh âm không dứt trong lòng nàng. Không biết là do nghĩ đến lời đồn về hồn ma hay vì bóng lưng đang nằm nghiêng của người đàn ông trước mắt, tim nàng đập thình thịch.

Cố Cửu này dưới đèn có bóng, chắc không phải là ma đâu nhỉ?

Nghĩ vậy, nàng không tự chủ được đưa tay về phía tấm lưng rộng lớn nhưng gầy gò ấy. Vừa chạm vào một góc áo ấm áp, tiếng chuông đột ngột vang lên kinh hãi.

“Đừng cử động.” Người đàn ông vẫn quay lưng không nhúc nhích, giọng nói trầm thấp vọng lại.

Chẳng lẽ người này sau lưng có mắt sao?

Thẩm Thập Nhất vội rụt tay lại, chui sâu vào chăn giả vờ ngủ. Nàng không dám nghĩ tiếp, chỉ tự an ủi mình rằng chạm vào thấy có thực thể, chắc chắn hắn không phải linh hồn. Dẫu có ma thật, thì Cố Cửu trông cao lớn thế này, chắc ma quỷ cũng chẳng dám lại gần. Hương xà phòng thanh khiết của nam tử thấm vào cánh mũi, nàng chìm sâu vào giấc mộng.

Càng về sau, giấc mơ càng trở nên hỗn loạn, nàng dường như nghe thấy tiếng ai đó đang khóc. Không chỉ một người, rất nhiều người đang khóc. Tiếng khóc ấy dường như là của mẹ nàng. Sao nàng lại khiến mẹ đau lòng nữa rồi? Có lẽ đây là lần đầu nàng xa nhà nên quá nhớ mẹ mà mơ thấy thôi. Đêm đã khuya, nàng thực sự không mở mắt nổi nữa, lịm đi trong giấc mộng.

Cứ thế trôi qua nhiều ngày, ban ngày Thẩm Thập Nhất lên lớp ngủ gật, Cố Cửu nghe giảng ghi chép; ban đêm dưới ánh nến, nàng lại tràn trề tinh thần, theo Cố Cửu đọc sách luyện chữ. Đêm đêm, ngăn cách bởi một sợi dây treo chuông đồng, họ cùng nằm trên một chiếc giường. Anh chàng mọt sách này tuy ít nói cười nhưng dạy nàng đọc sách lại vô cùng kiên nhẫn.

Dần dần, bất kể là bóng lưng ướt đẫm mồ hôi khi làm việc dưới nắng hay dáng vẻ nghiêm túc đọc sách dưới đèn khuya của hắn, nàng đều nhìn đến ngẩn ngơ. Chẳng rõ là nhìn hắn vì đẹp trai hay vẫn đang nghi ngờ hắn là ma. Ngoài Cố Cửu ra, các học tử khác trong thư viện đều bận rộn học hành, cực kỳ lạnh lùng, chẳng màng ngó ngàng đến nàng, gặp mặt chào hỏi cũng không đáp lại. 

Thật là thất lễ.

Nàng thầm nghĩ.

Giữ khoảng cách với những nam học tử này cũng tốt, sẽ không bị lộ. Nhưng hiếm khi được ra ngoài, có lẽ là lần duy nhất trong đời, mà không kết bạn được với ai thì thật đáng tiếc. Nàng cũng muốn có bạn, nàng nghe ma ma kể ngày xưa mẹ nàng cũng kết giao được rất nhiều bạn ở thư viện, hô một tiếng là có trăm người ứng hận.

Những ngày qua theo nàng quan sát, trong thư viện ngoài đám con em thế gia ỷ thế h**p người, vẫn còn nhiều học tử nhiệt tình. Tiết Thượng Tỵ sắp đến, thị trấn dưới núi tổ chức hội chợ, nhóm học tử này chuẩn bị dựng sân khấu cho dân làng, diễn một vở kịch “Lương Chúc”.

Khi Thẩm Thập Nhất nhắc đến chuyện này, hắn đang viết văn, ngòi bút bỗng khựng lại, ngước mắt hỏi: “Ngươi muốn diễn Chúc Anh Đài?” Giọng điệu không chút ngạc nhiên. Thẩm Thập Nhất dưới bàn siết chặt ống tay áo, dùng lời kịch đáp lại một cách thản nhiên: “Có gì lạ đâu, hội làng cúng thần năm nào ta chẳng đóng vai Quan Âm.”

Hắn vẫn không ngừng bút, nhàn nhạt nói: “Hóa ra là vậy. Thập Nhất không phải nữ nhi, nhưng trên tai lại có vết khuyên, chắc là vì lý do này chăng?” 

Mặt nàng dần nóng bừng, nàng xoa xoa d** tai, liếc hắn một cái, nhỏ giọng: “Cố huynh viết văn phải chuyên tâm, chớ có để tâm đến chuyện phấn son.”

Ngày Thượng Tỵ, thị trấn chăng đèn kết hoa, rồng cá nhảy múa đêm khuya, người xe như nước. Trên sân khấu, bức màn chậm rãi kéo lên. Nàng cầm lồng đèn xuất hiện, lập tức gây ra một làn sóng kinh ngạc. Sau một năm, lại một lần nữa mặc nữ trang, dù là phục trang diễn kịch có phần hoa hòe, Thẩm Thập Nhất vẫn có cảm giác như cách một đời. Thiếu nữ bước chân nhẹ nhàng như hoa sen, hoa tai bên tóc mai khẽ ngân nga, dù sao cũng đã làm phận nữ nhi hơn mười năm, tự nhiên toát ra vài phần tình thái thiếu nữ.

Phía bên kia, “Lương Sơn Bá” phong thái ngời ngời, quạt xếp hào hoa khiến nàng nhìn đến ngây người. Đối phương cũng ngẩn ngơ, sân khấu tĩnh lặng suốt một lúc lâu, cả hai suýt nữa quên mất lời thoại. 

Trong tiếng nhạc kịch ê a, từ kết nghĩa ở cầu cỏ, cùng cửa học hành, đến mười tám dặm tiễn đưa… Khi Cố Cửu đọc đến câu “Ta từ nay không dám nhìn Quan Âm”, nàng cảm thấy tim mình lỡ mất một nhịp. Ngước mắt lên, nàng rơi vào ánh mắt dịu dàng như nước của người đàn ông. Muôn vàn hoa đăng trên sân khấu như đang xoay chuyển trong đôi mắt hắn.

Giữa lúc tay áo phất phơ, ngọn nến trong tay nàng bỗng cháy hết rồi dần tắt lịm. Dưới sân khấu vang lên tiếng kêu kinh ngạc. Tay Thẩm Thập Nhất run lên, chiếc lồng đèn đã tắt suýt rơi xuống đất thì được một đôi tay vững chãi đỡ lấy. Bao nhiêu người đang nhìn, không thể để mất mặt được. Nàng định thần lại, diễn nốt vài câu cuối rồi cùng hắn chào từ biệt khán giả. 

Các học tử dưới sân khấu ngẩn ngơ, hồi lâu sau tiếng vỗ tay mới rộ lên không dứt, tiếng bàn tán xôn xao: “Ai đóng vai Chúc Anh Đài thế kia, sao ta chưa từng thấy?” 

“Chắc là học trò mới đến, ta cũng chưa gặp bao giờ. Sao người lại biến mất nhanh thế… kịch kết thúc nhanh quá.”

Bên bờ ao Kim Minh cách đó một con phố, hoa đào nở rộ, cành nghiêng chạm nước. Hai người đã trút bỏ lớp phục trang rườm rà, cùng ngồi bên bờ ao xem trẻ nhỏ thả hoa đăng. Những ngọn hoa đăng như dải ngân hà rơi xuống nhân gian, trôi chảy trên mặt nước lặng lẽ về phía xa. Đám trẻ nô đùa bỗng lặng im trong chốc lát, hóa ra chúng đã thả xong hoa đăng và đang cầu nguyện.

Thẩm Thập Nhất cũng chắp tay, thầm nhủ lời cầu nguyện. 

Xong xuôi, nàng nhướng mày cười nói: 

“Cố huynh, huynh đoán xem, ta đã cầu nguyện điều gì?” 

Cố Cửu phẩy quạt, đôi mắt phản chiếu bóng x**n th**, khẽ nói: “Ta đoán, ngươi ước rằng mình có thể đọc vạn cuốn sách, đi vạn dặm đường.” 

“Sao huynh biết được?!” Thẩm Thập Nhất giật mình kinh ngạc, người này là con sâu trong bụng nàng hay sao mà đoán không sai một li.

Nàng ra khỏi khuê các, đến thư viện đọc sách luyện chữ, được nhìn thấy trời cao đất rộng, nhân gian muôn màu. Sao nàng có thể cam lòng quay lại khuê các, bị giam cầm suốt đời? Nước ao lặng lẽ chảy trôi, Cố Cửu gập quạt lại, dải mũ bay trong gió. Hắn cúi đầu, chỉ cười mà không nói. Thẩm Thập Nhất thấy hắn cười thì cảm thấy kỳ quặc, chắc chắn là do lớp phấn son trên mặt lúc diễn kịch quá dày. Nàng vốn không thích trang điểm, bèn cúi người xuống định lấy nước ao làm gương để tẩy trang.

Hoa đăng đã trôi xa, mặt ao tối om không soi rõ bóng nàng. Ngón tay nàng chạm vào nước ao, tự tay lau đi lớp phấn hồng dày đặc. 

Một tiếng cười khẽ vang lên. “Lương Sơn Bá, một mình đi xem hoa đăng sao? Chúc Anh Đài của huynh đâu rồi?” Phía bên kia bờ ao vang lên tiếng trêu chọc của các học tử rồi dần xa. 

Chẳng phải nàng đang ở đây sao, đám người này không có mắt à?

Thẩm Thập Nhất bực bội lườm một cái.

Cố Cửu nhìn nàng, cười mà không nói, chỉ lặng lẽ thắp lại chiếc lồng đèn đã tắt trong tay nàng lúc nãy. Ánh nến soi tỏ, nàng mới thấy mình trong nước ao, gương mặt đã bị lau lem nhem như mèo hoa. Đúng lúc đó, một đôi tay hơi lạnh nhẹ nhàng lướt qua gò má nàng. Dưới ánh nến, đối diện nhau, Cố Cửu từng chút một lau sạch lớp phấn son trên mặt nàng, ánh mắt vô cùng chuyên chú.

“Thanh thủy xuất phù dung, thiên nhiên khứ điêu sức” 

P/S: Hoa sen mọc từ nước trong, vẻ đẹp tự nhiên không cần tô vẽ. 

Không ai lên tiếng, giữa đất trời chỉ có tiếng nước chảy róc rách. Thẩm Thập Nhất nhìn hắn, nhìn sâu vào đôi mắt ấy. 

“Còn vài ngày nữa là tới kỳ Xuân Vi rồi. Cố huynh nhất định sẽ đỗ đầu bảng vàng.” 

Nàng nói từng chữ một: “Sau khi đỗ rồi, huynh nhất định phải đến tìm ta.”

Cố Cửu gật đầu, thần sắc trầm ổn không dời: “Bất kể ngươi ở đâu, ta cũng sẽ tìm thấy ngươi.”

Lời nói sao mà quen thuộc thế, dường như nàng đã nghe thấy ở đâu đó rồi. Thẩm Thập Nhất bẻ một cành hoa đào, đưa tới trước mặt hắn. 

“Chúng ta lấy hoa đào làm minh ước, Cố huynh nói phải giữ lời.” 

“Hoa đào làm minh ước, sống chết không đổi dời.”

Nhưng cành đào hắn không thể mang theo bên mình khi lên đường. Thẩm Thập Nhất nảy ra ý định, tước một lớp vỏ từ cành đào, bện thành một sợi dây mảnh, buộc vào cổ tay hắn. 

Nàng cười nói: “Lúc biệt ly không có gì tặng huynh. Cành đào trừ tà, có thể phòng quỷ nhỏ quấy phá, huynh đeo sợi dây hoa đào này, nhất định sẽ bảo vệ huynh thượng kinh bình an.”

Cố Cửu nhìn nàng, ôn nhu nói: “Quỷ hồn không đáng sợ, chỉ sợ không thấy người.” Chẳng biết là do bóng nước ao hay ánh đèn lay động, lúc nói chuyện, trong đôi mắt đen của hắn dường như có sóng nước, như thể ngấn lệ. Thẩm Thập Nhất dần không nhìn rõ nữa, vì nàng lại buồn ngủ, buồn ngủ vô cùng, gục đầu xuống là ngủ thiếp đi.

Khi tỉnh dậy đã là ban ngày, nàng lại thấy mình đang ở trong Tàng Thư Các. Mùi xà phòng vẫn còn đó, nàng mơ màng ngồi dậy, nghe thấy tiếng Trần Lục Lang bên ngoài cửa. 

“Ban ngày ban mặt sao Cửu lang vẫn thắp đèn thế này?” 

Hắn lẩm bẩm bước vào, vừa nhìn thấy Thẩm Thập Nhất đang ngồi trên giường thì kinh ngạc: 

“Ơ, ngươi là ai? Sao ta chưa từng thấy ngươi?”

Thẩm Thập Nhất cứng mặt chắp tay chào: “Trần huynh, huynh không nhớ ta sao? Hôm qua ở hội chợ chính là ta đóng vai Chúc Anh Đài đấy. Ta còn thấy huynh đứng dưới sân khấu xem kịch mà.” 

“Hội chợ? Chẳng phải đó là chuyện của một tháng trước rồi sao?” 

Trần Lục Lang lẩm bẩm một câu, nhìn kỹ vị tiểu lang quân môi hồng răng trắng trước mắt, chợt nhận ra: “Hóa ra là ngươi! Ngươi chính là Chúc Anh Đài đó sao? Nhưng sau đó đèn tắt, sao ngươi đột ngột biến mất luôn vậy, là ảo thuật gì à?”

“Ta… biến mất?” Thẩm Thập Nhất đờ người tại chỗ. 

“Đúng thế, trên sân khấu chỉ còn mình cái tên ngốc Cố huynh kia tự diễn hết cả vở kịch, làm bọn ta cười chết mất.” Trần Lục chỉ vào đầu mình, cười ngặt nghẽo: “Hắn đọc sách nhiều quá chắc hỏng não rồi, ngươi đừng có học theo hắn… Đúng rồi, ngươi là người mới đến à?”

Thẩm Thập Nhất bàng hoàng, liên tục lùi bước, loạng choạng suýt ngã. Nàng đột ngột lao tới, dồn dập hỏi: “Ta đến thư viện một năm rồi, sao huynh lại không nhận ra ta? Ngày nào ta cũng ngồi ngay sau hàng của huynh, cùng lên lớp đọc sách mà!”

Lần này Trần Lục Lang không cười nữa, hắn nhìn nàng như nhìn kẻ ngốc, xua tay: “Ngươi đùa cái gì thế? Chắc là đọc sách với Cố Cửu nên cũng ngốc theo rồi phải không? Cả năm qua cái bàn sau lưng ta làm gì có ai ngồi đâu…”

“Làm gì có ai… ngồi?” Giữa giọng nói run rẩy của nàng, chiếc chuông đồng trên giường bên cạnh dường như không ngừng ngân nga. Tiếng chuông dầy đặc như những con rắn nhỏ luồn lách, những lớp vảy lạnh lẽo bò lên sống lưng nàng, khiến nàng rùng mình liên hồi.

Trần Lục Lang không nhận ra sự bất thường của nàng, tự mình nhớ lại: “Năm ngoái ta không ở thư viện, nghe nói lúc đó người ngồi bàn sau ta hình như là một học trò họ Thẩm, nghe đâu sau khi về quê thì lâm trọng bệnh qua đời rồi, thật là đáng thương. Hắn dáng người không cao nhưng rất thú vị, nhiệt tình cởi mở, tất cả học trò trong thư viện đều yêu quý hắn. Đúng rồi, chính năm đó hắn và Cố huynh đã cùng diễn vở ‘Lương Chúc’ đấy, diễn hay tuyệt vời, dân làng đến giờ vẫn còn nhắc… Ôi, người tốt thế mà sao lại đi sớm vậy…”

Bóng đèn bao trùm xuống, Thẩm Thập Nhất đã lún sâu nửa người trong bóng tối. Ánh mắt tuyệt vọng cuối cùng của nàng dừng lại nơi ngọn nến cháy suốt một năm không tắt trên bàn. Tay áo nàng khẽ phất, ngọn lửa nến đột ngột vụt tắt. 

Trong bóng tối chết chóc ấy, chỉ còn lại tiếng hét kinh hoàng như sấm dậy của Trần Lục Lang: “Ơ, ngươi đâu rồi? Ban ngày ban mặt sao người lại biến mất rồi…” 

“Á! Có ma! Có ma thật rồi!…”

Trong đêm đen vô tận, Thẩm Thập Nhất nhắm mắt lại, bị nhấn chìm bởi ký ức tuôn trào như thác lũ. Bên tai nàng dường như có tiếng khóc nức nở mơ hồ, không dứt.

Thẩm thị Thập Nhất nương, hóa ra sớm đã là một linh hồn cô độc.

Khi ánh đèn thắp sáng trở lại, nàng nhìn thấy gương mặt quen thuộc ấy trong bóng tối. Lông mày như vẽ, nhưng lại mang nét mệt mỏi mà một thiếu niên chẳng nên có.

“Cố lang,” Nàng vô thức gọi tên hắn.

Nghe thấy tiếng gọi ấy, Cố Cửu Lang bỗng nhiên ngước mắt. Một lúc lâu sau, hắn chìa tay về phía nàng đang lẩn trốn trong bóng tối, nghẹn ngào nói:

“Thập Nhất Nương, một năm rồi, về thôi.”

Thập Nhất Nương, con gái út nhà họ Thẩm tại kinh đô. Năm mười bốn tuổi, nàng theo lệnh mẫu thân cải nam trang vào thư viện Lan Nhược đèn sách, từ đó kết giao với chàng môn sinh nghèo Cố Cửu Lang. Hai người cùng cửa cùng lớp, tương tri tương tích, xem nhau là tri kỷ. Một năm sau, trước khi Cố Cửu Lang lên kinh ứng thí, đôi trẻ đã âm thầm định ước chung thân.

Nào ngờ sau khi Thẩm Thập Nhất Nương trở về quê nhà, nàng bị tộc nhân ép gả vào cung làm phi, từ đó lâm bệnh nặng không dậy nổi. Ngày Cố Cửu Lang bảng vàng đề danh, cưỡi ngựa dạo phố vinh quy, cũng chính là lúc linh cữu của Thập Nhất Nương rời khỏi thành.

Vì cứu người thương, Cố Cửu Lang từ quan bôn ba tám nghìn dặm, đi bộ trong gió tuyết lên núi cầu kiến đạo sĩ núi Lao Sơn. Đạo sĩ pháp hiệu Kính Sơn nói rằng nàng có thể cải tử hoàn sinh, bởi chứng bệnh của nàng thực chất là “ly hồn chướng”. Muốn giữ cho nhục thân vẹn toàn như thuở ban đầu cho đến ngày hồn phách trở về, cần phải dùng một lượng máu tim của nam nhân làm thuốc dẫn mỗi ngày. 

Song thân nhà họ Thẩm đau xót khôn nguôi, bèn tuyên bố: Ai có thể cắt thịt tim, lấy máu tim cứu con gái ta, người đó chính là hiền tế.

Kể từ đó, Cố Cửu Lang mổ ngực lấy máu, ngày đêm dùng máu tim nuôi dưỡng nàng, rồi quay lại thư viện Lan Nhược, cuối cùng cũng tìm thấy một sợi hồn phách của ý trung nhân.

Gió lùa qua lầu tàng thư u uất. Một người một ma, nói hết tiền duyên. Để tìm hồn phách của nàng, Cố Cửu Lang ở lại thư viện Lan Nhược, náu thân nơi gác sách, trải lại chuyện xưa, khổ sở chờ đợi một tia tàn hồn quay gót.

Thần thức của Thẩm Thập Nhất tỉnh lại, hồn hỡi về đây, trăm mối ngổn ngang: 

“Cố lang sao lại biết hồn phách ta vẫn ở thư viện?”

Cố Cửu Lang mỉm cười: “Ta biết tâm nguyện của nàng là được đọc sách đi đây đó như đấng nam nhi, được viết những nét chữ thật đẹp. Đọc vạn cuốn sách, đi vạn dặm đường. Nàng nhất định sẽ quay về thư viện trước tiên, nơi chúng ta lần đầu gặp gỡ. Lệnh tôn đã hứa, chỉ cần tìm được hồn phách nàng, giúp nàng sống lại, sẽ gả nàng cho ta.”

Bốn mắt nhìn nhau, Thẩm Thập Nhất rơi lệ than thở: 

“Gia đình bắt ta vào cung là để mưu cầu tiền đồ cho gia tộc. Dẫu ta có chết đi sống lại, e rằng sự đời xoay vần, phụ thân chưa chắc đã giữ lời hứa.”

Cố Cửu Lang cau mày không đáp, gương mặt vẫn kiên định như xưa: 

“Dù thế nào đi nữa, ta nhất định sẽ đường đường chính chính đến cầu hôn.”

Một người một ma vội vã trở về phủ họ Thẩm tại kinh đô. Trong phòng, linh đường vẫn còn đó, cờ tang trắng xóa bay phất phơ. Hồn phách Thập Nhất Nương nhập vào quan tài, di hài cử động rồi hồi sinh tỉnh lại. Thấy nàng nói cười như người sống, Thẩm phụ Thẩm mẫu mừng rỡ khóc cười xen lẫn, tức tốc dẹp bỏ linh đường.

Cố Cửu Lang giữ đúng hẹn đến cầu hôn. Cha mẹ nàng nhìn nhau một cái rồi bày tiệc thết đãi. Thế nhưng ngay trên bàn tiệc, Thẩm phụ quả nhiên lật lọng. Ông ta lớn tiếng chê bai Cố gia là hạng hàn môn, không quan tước, chẳng quân công, sao xứng với tiểu thư khuê các nhà họ Thẩm. Ông ta tặng lại nghìn lượng vàng coi như trả công máu thịt bấy lâu, từ nay hai bên không ai nợ ai.

Cố Cửu Lang hiên ngang rời đi, tức giận nói: 

“Thập Nhất Nương vốn là người trong tim ta. Thịt nơi lồng ngực tặng người trong tim, chứ không phải bán thịt đổi lấy vàng bạc.”

Trong phủ, Thập Nhất Nương quỳ gối ba ngày, tuyệt thực van nài. Thẩm mẫu không đành lòng, lén thả con gái ra khỏi phủ gặp tình lang.

Đêm ấy, trăng sáng treo cao, đôi lứa gặp lại trên đài núi. Thẩm Thập Nhất Nương cuối cùng cũng dùng nữ trang để tương kiến, dáng vẻ tiên tư ngọc mạo động lòng người. Cố Cửu Lang đã cầm cố hết đồ đạc trên người để đổi lấy một bộ giáp sắt cũ nát. 

Hai người ôm nhau thật lâu, môi răng khăng khít. 

Hắn an ủi nàng: “Ta đã mất quan thân, chỉ còn cách tòng quân. Phương Bắc đang có chiến sự, đợi ta lập được quân công, ngày sau sẽ quay về xin lệnh tôn chấp thuận.”

“Thẩm Thập Nhất, hãy đợi ta.”

Bóng hoa nơi núi dã lay động, Thẩm Thập Nhất ngả người tựa vào, cưởi áo bi thương: 

“Kiếp này đã phụ Cố lang…”

Cố Cửu Lang kinh ngạc, giữ lấy vạt áo đang trượt xuống của nàng, lắc đầu nói: 

“Chúng ta vẫn chưa thành thân, ta vẫn chưa phải là phu quân của nàng…”

Thập Nhất Nương mỉm cười dịu dàng, trong cái mềm mại có sự cứng cỏi, nàng chủ động hôn hắn: “Tim ta đặt ở đâu, người đó chính là phu quân của ta. Bất cứ ai cũng không thể xoay chuyển tâm niệm của ta.”

Thế là mây mưa quyện chặt, đôi lứa mặn nồng. Ánh trăng sương mờ làm hương xạ, cây ngọc cành quỳnh dựng màn che, quấn quýt bên nhau dưới tấm chăn thêu uyên ương đảo điên sóng đỏ.

Thẩm Thập Nhất Nương trở về Thẩm phủ, chỉ thấy binh lính trong viện sẵn sàng nghênh chiến, nô tỳ quỳ đầy sân, ngay cả mẫu thân cũng đang quỳ dưới đất. Nàng hiên ngang bước về phía người cha đang ngồi trên vị trí chủ tọa, như con thiêu thân lao mình vào biển lửa.

“Phụ thân, nhi nữ sẽ không vào cung.”

“Vào hay không, không đến lượt con quyết định.” Thẩm phụ cười lạnh, “Thân thể tóc da thụ hưởng từ cha mẹ. Hôn sự của con, chỉ có ta mới được làm chủ.”

“Con đã chết một lần rồi, một thân máu thịt này đã trả lại cho cha mẹ. Ngày hôm nay con nhất định phải sống theo ý nguyện của chính mình. Nếu cha mẹ vẫn không nghe, con sẽ chết thêm lần nữa, chỉ để lại hồn phách, còn nhục thân này trả hết cho người!”

“Láo xược! Lệnh cha mẹ, lời mai mối, đó là thiên kinh địa nghĩa, xưa nay vẫn thế! Con đọc sách thánh hiền mà dám nghịch cha, định chống lại lệ làng phép nước cả trăm năm nay sao?”

“Xưa nay vẫn thế, thì chắc chắn là đúng sao?”

“Con đã nhận Cố lang là phu quân, đã trao thân cho chàng, theo lệ thường, sao con có thể gả cho người khác? Đó mới là bất trung bất hiếu, bất trinh bất nghĩa!”

“Thật là ngoan cố, cưỡng từ đoạt lý! Ba tháng sau dẫu con sống hay chết cũng phải vào cung cho ta! Người đâu, đem nhốt nó lại, từ hôm nay cấm túc hối lỗi!”

Rầm rầm rầm —— Xích sắt nặng nề khóa chặt cửa phòng. 

Đinh đinh đinh —— Đinh dài đóng chặt cửa sổ. 

Cuối cùng, một đôi khóa đồng lớn sập xuống, hình thú trên khóa như muốn nhe nanh múa vuốt. Căn phòng khuê các nay biến thành một cỗ quan tài sống.

Thẩm Thập Nhất Nương bị giam cầm bên trong, ngày đêm không nghỉ, nàng luyện chữ viết thư, nhờ nha hoàn thân cận gửi ra quân doanh cho người thương. 

“Tiểu thư, người hãy nhẫn nhịn, họ nói chiến tranh đã thắng rồi, Cố Cửu Lang sắp về rồi.” Nha hoàn nghe được tin liền chạy đến báo.

Gương mặt Thập Nhất Nương tiều tụy, ngây dại, nhưng ngòi bút vẫn không dừng. 

Nha hoàn đau lòng cầm thư lên xem, tờ nào cũng viết tám chữ: 

Sống chết cách biệt, lời thề cùng nhau”. 

Nét chữ không còn rối rắm như xưa mà trở nên rắn rỏi, thấu tận mặt giấy, còn xuất sắc hơn cả Thẩm phu nhân thời trẻ.

Sắc chỉ trong cung đã xuống, ngày cưới cận kề, Thẩm phu nhân lo lắng không thôi, đứng cách cánh cửa khuyên nhủ nàng. Nghe tiếng mẹ, Thập Nhất Nương bò đến bên cửa. Bóng hoa văn điêu khắc đổ xuống làm gương mặt thanh xuân của nàng như vỡ vụn, tiếng nói tựa lụa rách thét lên:

“Mẹ ơi, con không vào cung, con không muốn cả đời sống với một người không quen biết. Mẹ ơi, thả con ra…” 

“Mẹ ơi, con viết chữ đẹp rồi, mẹ xem đi mà…”

Thẩm phu nhân nhìn nét chữ mà lệ rơi không ngớt, nhưng bà lại nhắm mắt xé nát những tờ giấy ấy. Những mảnh vụn rơi xuống, tan vào bùn đất. “Con à, con hãy nghĩ thoáng ra đi. Coi như mẹ xin con, mẹ cũng đã đi qua như vậy mà.” 

“Sự tôn quý và vinh hiển của Thẩm gia đều đặt cả lên người con. Con nghe lời có được không?”

Dứt lời, tia sáng cuối cùng ngoài cửa khép lại, gương mặt Thập Nhất Nương rơi vào bóng tối mịt mùng, nàng thẫn thờ ngã ngồi xuống đất. Nàng đã có thể viết được chữ đẹp rồi. Nhưng mẹ nàng vốn không cần nàng viết chữ đẹp. Chưa bao giờ cần.

“Mẹ, cho con gặp Cố lang lần cuối. Chỉ một lần cuối thôi…” Tiếng con gái trầm đục nhưng khô khốc vọng ra từ cánh cửa đóng kín, khiến Thẩm phu nhân đau như dao cắt.

“Chỉ là một tên tiểu tướng mạt hạng, lại không phải sĩ tộc, chết cũng chẳng ai hay.” Nghĩ đến hung tin vừa truyền tới, Thẩm phu nhân do dự một lát rồi lấy ra một vật, nhét qua khe cửa.

Thẩm Thập Nhất Nương xòe tay ra đón. Đó là một đoạn dây thừng bện bằng vỏ cây đã đứt. Dây đứt ở giữa, vết máu loang lổ thấm đỏ tựa như một sợi chỉ hồng.

“Lấy hoa đào làm minh ước, sống chết không rời.”

“Dù nàng ở đâu, ta cũng sẽ tìm thấy nàng.”

“Cố lang!” Một tiếng gào xé lòng vang động tường cao. Ngoài những bức tường sâu thẳm của nội viện, tuyết rơi trắng xóa, tiếng gió như tiếng khóc than.

Ba tháng sau, mùng ba tháng ba, ngày lành cưới hỏi. Cung đình nghênh thân, tám kiệu lớn khiêng, mười dặm hồng xác pháo. Trong Thẩm phủ, căn phòng thâm khuê đã lâu không thấy ánh mặt trời. Nô tỳ nối đuôi nhau vào, thắp lên từng ngọn nến hỉ, nhưng trong phòng vẫn tối tăm như chốn âm ty. Dưới ánh lửa le lói, rèm che lay động, chợt lộ ra một gương mặt hoa đào xinh đẹp. Nhìn kỹ, gương mặt ấy vì dặm quá nhiều phấn mà như một bức tường bong tróc, mục rỗng từ bên trong.

Thẩm Thập Nhất Nương không ăn không uống, hơi thở mong manh, chỉ giữ lại một hơi tàn. 

“Ta còn phải… gặp chàng lần cuối,” Nàng thều thào.

Đám nha hoàn vừa khóc vừa thay y phục cho nàng. Nhưng thân hình nàng quá gầy yếu, mặc không vừa áo cưới, y phục trống huếch trống hoác, tóc tai rũ rượi chẳng giống người sống, chỉ như một luồng du hồn. Thẩm mẫu run rẩy trang điểm cho nàng. Nhưng khí sắc nàng quá tệ, phấn son quá nồng khiến gương mặt trắng bệch ánh lên sắc xanh chết chóc. Đôi môi đỏ như máu, đôi mắt nhắm hờ tựa hai vực thẳm không đáy.

Tiếng bà mai gào lên, kiệu hoa rời Thẩm phủ hướng về phía cung đình. Đoàn người đưa dâu hớn hở vui tươi, nhìn qua lại giống hệt những hình nhân giấy trong đám tang. Tân nương trong kiệu khoác trên mình bộ hỉ phục đỏ thẫm, che đi xiềng xích trên tay chân. Cái đầu nghiêng vẹo như đóa hải đường héo úa, nở rộ trên một bộ xương khô. Trang sức ngọc ngà lộng lẫy cũng không nén nổi khí quỷ sâm nghiêm.

Trời âm u, trong cơn mưa bụi lạnh lẽo, đoàn đưa dâu đụng độ đoàn đưa tang. Thiếu niên tướng quân tử trận sa trường, linh cữu được đưa về kinh, nhưng trên quan tài lại phủ một tấm khăn hỉ đỏ rực, như thể đi đón dâu, nộp sính lễ.

Khoảnh khắc kiệu hoa và quan tài lướt qua nhau, cả hai bỗng nhiên dừng khựng lại. Trong nháy mắt, đất trời biến sắc, gió cuốn mây tan, trăm quỷ đêm khóc. Mọi người đứng không vững, ngã nghiêng ngả ngửa. Khi định thần lại, trăm người cùng đẩy kiệu hoa mà kiệu không hề nhúc nhích, nặng tựa nghìn cân.

Tân nương như có cảm ứng, siết chặt sợi dây đỏ đứt đoạn trong tay, cuồng loạn lao ra khỏi kiệu hoa. Xiềng xích nặng trăm cân trên người nghe tiếng mà vỡ vụn thành tro bụi. Khăn trùm đầu bị giật phăng, khăn quàng vai đứt đoạn, tựa như gươm gãy giáp rời, chìm vào cát vàng. Cờ tang cùng lụa hỉ nhảy múa, giấy tiền cùng vàng mã bay lượn ngợp trời.

Thẩm Thập Nhất Nương quỳ rạp trước linh sàng, mái tóc xanh tung bay trong gió, đôi tay mảnh khảnh v**t v* bài vị của hắn. Nàng dùng máu làm mực, nắn nót từng nét một viết lên đó tên của chính mình.

“Cố Cửu, Thẩm Thập Nhất tới làm thê tử của chàng đây.”

Lời vừa dứt, mặt đất bằng phẳng bỗng nhiên sụt lún, quan tài hạ sâu xuống. Nắp quan chậm mở, tựa như vòng tay người thương rộng mở đón nàng vào lòng. Tân nương nở nụ cười mãn nguyện, gieo mình vào lòng đất mẹ, nắp quan tài một lần nữa khép chặt.

Sống chết có nhau, lời thề cùng chàng.

Sống chẳng chung chăn, chết nhất định chung mồ.

Đến khi mọi người vội vã lao tới, nơi đó chỉ còn lại một nắm đất vàng đắp cao, hóa thành ngôi mộ ngay tại chỗ, lấy y quan làm chốn an nghỉ ngàn thu. Đất trời rơi vào tĩnh lặng, mưa trút xuống tầm tã như muốn rửa sạch mọi bụi trần.

Chẳng bao lâu sau, mưa tạnh gió lặng, một đôi bướm từ trong lòng đất phá mộ bay ra, lướt qua ba nghìn trần thế, bay về phía tiền thế kim sinh.

【LỜI CỦA TÁC GIẢ】

Tám nghìn chữ đã đủ, tôi đến như đã hẹn.

Cảm hứng cho phần ngoại truyện này đến từ bản điện ảnh Lương Chúc (1994) của Từ Khắc, một số đoạn đối thoại được cải biên từ lời thoại gốc.

Chi tiết “ly hồn” lấy từ Mẫu Đơn Đình của Thang Hiển Tổ; ngoài ra còn rất nhiều “trứng phục sinh” từ Liêu Trai Chí Dị: Thư viện Lan Nhược lấy từ chùa Lan Nhược trong Nhiếp Tiểu Sảnh, chi tiết dùng thịt tim để cải tử hoàn sinh lấy từ truyện Liên Thành, v.v.

Khi viết Ngoại truyện 1, đoạn Thẩm Thập Nhất phản kháng phụ thân không chịu nhập cung, tôi đã bắt đầu nảy ra ý tưởng cho chương này, cuối cùng quyết định kết hợp giữa Lương Chúc và Liêu Trai. Liêu Trai dùng ma quỷ để ngụ ý về con người, dùng chuyện quỷ để viết chuyện đời, điều này hoàn toàn trùng khớp với lập ý của tác phẩm.

Còn Lương Chúc chính là lý tưởng tinh thần vĩnh cửu của tôi: Hai linh hồn tự do không khuất phục đấu tranh chống lại cả một thời đại. Cho dù nhục thân đã mất, lý tưởng của linh hồn sẽ không bao giờ bị hủy diệt. Đôi bướm ấy chính là một cặp linh hồn chân ái, bay qua tiền thế kim sinh, bay qua vạn dặm sông núi. Vô hạn bao la, vô hạn tự do.

Thế nên, đây chính là một kết thúc đại viên mãn!

Bản chất của tình yêu là “NHÌN THẤY”, quan điểm này xuyên suốt toàn bộ tiểu thuyết. Bất luận Tiểu Thẩm là người hay quỷ, mang diện mạo thế nào, hắn đều có thể nhận ra nàng ngay từ cái nhìn đầu tiên. Nỗi oan của nàng chính là nỗi oan của hắn, bất luận sinh tử. Tương tự, bất luận Tiểu Cố là công tử thế gia rạng ngời hay là biên tướng sa cơ bị lưu đày nơi Bắc Khương, Tiểu Thẩm đều có thể “nhìn thấy” nỗi đau trầm uất và sự bất khuất của hắn. Đây chính là hạt nhân của sự cứu rỗi từ cả hai phía trong tác phẩm này.

Trước Tiếp