Chào mừng bạn đến với cộng đồng truyện lớn nhất VN - Metruyen.tv
Chào mừng bạn đến với cộng đồng truyện lớn nhất VN - Metruyen.tv
Chu đại nương đứng ở bên ngoài, dùng một thanh nan tre nạo sạch lớp bùn dày bám dưới đế giày rồi mới bước vào nhà. Bà uống liền một mạch hai tách trà lớn, bấy giờ mới chống nạnh nói: “Cái mụ già cay nghiệt đại bá nương của con đấy, ta vốn đã chẳng coi ra gì từ lâu rồi. Trước đây mụ ta cứ cậy mình có cái danh dâu trưởng mà hở ra là tìm cách gây hận chuốc vạ cho ta, lần này về quê ta đã cho mụ ta một bài học nhớ đời rồi.”
Bà Chu vốn có diện mạo không mấy ưa nhìn với khuôn miệng hơi nhô và hai chiếc răng hô. Năm xưa khi còn ở trong phủ, bà chỉ là chân chạy việc vặt ở nhà bếp lớn ngoài viện, vốn dĩ chẳng giữ lại được lâu. Nhưng nhờ có một lần lão thái thái khen món canh đậu phụ bà làm rất ngon, nên bà mới được chỉ định gả cho người trong phủ rồi ở lại làm bà tử.
Cứ thế trôi qua vài năm, một ngày nọ khi đang mang cơm canh đến viện của Tam thiếu gia, bà Chu vô tình bắt gặp Tam thiếu gia đang lén lút tư thông với vợ của Võ Đại. Tam thiếu gia vốn dĩ sợ Tam thiếu phu nhân như sợ cọp, lo chuyện vỡ lở ra ngoài nên đã đổi trắng thay đen, vu cho bà Chu tay chân hậu đậu làm vỡ chiếc chén lưu ly do phủ Vũ Vương ban tặng, rồi đòi bán bà cho người khác.
Khi ấy Tần Thư cũng chỉ mới mười ba, mười bốn tuổi, trong lòng nàng hiểu rõ ngọn ngành câu chuyện, lại thấy bà Chu đáng thương nên mới thưa với Tam thiếu phu nhân rằng: “Người hầu này cũng chẳng tiếc rẻ gì, hiềm nỗi lão thái thái từng khen bà ta một câu. Trong phủ chúng ta xưa nay chỉ có mua người vào chứ hiếm khi bán người đi, vả lại nếu bán bà ta đi, khó mà bảo đảm bà ta không thêu dệt chuyện xấu về phủ. Chi bằng cứ đánh cho mấy bản tử, rồi không chỉ bà ta mà ngay cả chồng bà ta cũng được trả lại văn khế bán thân, cho bọn họ về quê cũ. Như vậy chắc chắn họ sẽ giữ mồm giữ miệng, không dám nói năng bậy bạ đâu ạ.”
Thời điểm đó, Tần Thư vừa mới tiếp quản chìa khóa kho của Lão thái thái. Tam thiếu phu nhân thấy nàng lên tiếng xin giùm thì cũng phải nể mặt vài phần, liền nắm lấy tay nàng nói: “Tỷ tỷ tốt của ta, ta mới gả vào đây nên chưa hiểu hết mấy chuyện này, đa tạ tỷ đã nhắc nhở. Đã là người được lão thái thái từng khen thì chúng ta cũng nên nể trọng đôi chút. Có điều bà ta quả thật đã phạm lỗi, cứ theo lời tỷ nói, đuổi ra khỏi phủ là xong, coi như cũng vẹn toàn lòng từ bi của môn đệ nhà ta.”
Tần Thư đã đích thân tiễn phu thê bọn họ ra khỏi viện tử, lại còn bỏ tiền túi đưa thêm mười lượng bạc cho họ, xem như là làm một việc thiện tích đức.
Chính vì mối duyên nợ năm xưa ấy, khi đang ở phủ Trấn Giang và muốn tìm một nơi nương thân để ẩn náu trong một, hai năm, Tần Thư đã lập tức nghĩ ngay đến người thật thà như bà Chu.
Bà Chu vốn dĩ chẳng có chút duyên nào với những tiêu chuẩn thẩm mỹ thông thường, dáng người bà thô kệch, vai u thịt bắp. Thấy Tần Thư lại đang mải miết thêu thùa, bà chép miệng chê trách: “Sao chẳng thấy con nghỉ tay lúc nào thế? Chẳng nói đâu xa như ta bán đậu phụ, ngay đến mấy ông đồ tể giết lợn ngoài phố mỗi tháng cũng còn nghỉ một ngày kia mà? Ôi dào, cứ làm ngày làm đêm thế này, cẩn thận chưa đến ba mươi tuổi đầu đã hỏng hết cả mắt rồi.”
Tần Thư đặt kim chỉ xuống, nàng mỉm cười hỏi: “Mẹ về quê làm gì thế ạ? Sao mà trông mẹ vui vẻ thế này?”
Bà Chu nghe Tần Thư gọi mình là “mẹ”, dù đã trôi qua mấy tháng rồi vẫn có chút chưa quen, nhưng hễ nhắc đến chuyện ở quê là bà lập tức phấn chấn hẳn lên: “Hai tỷ đệ nhà con hôm nay thật sự nên đi cùng ta, để tận mắt nhìn xem cái bản mặt nịnh giàu đạp nghèo của lão thái công, rồi xem cả cái mặt của đại bá mẫu nhà các con bị chọc cho tức đến tím tái như gan lợn ấy. Chà chà, thật là hả dạ, còn bổ béo hơn cả ăn nhân sâm phương Bắc nữa cơ.”
Bà Chu hiện tại kiếm sống bằng nghề bán đậu phụ, còn Tần Thư làm việc thêu thùa, mỗi tháng lại đưa thêm cho bà một lượng bạc để chi tiêu trong nhà. Cộng thêm khoản thu nhập từ ruộng đất được chia ở quê, cuộc sống của họ bây giờ đã khấm khá và thong thả hơn trước rất nhiều.
Bà Chu thong thả vắt chân chữ ngũ, rồi kể tiếp: “Lão thái công nói là muốn tu sửa mộ tổ, nhà nào cũng phải đóng góp bạc tiền. Ta thì chẳng nề hà gì chuyện đó, chỉ có điều năm xưa đại bá mẫu nhà con cứ chỉ tận mặt mà chửi ta không phải người nhà họ Chu, vậy thì cớ gì ta phải bỏ tiền ra? Ta nhất quyết bắt mụ ta phải rót trà tạ lỗi với ta, thì ta mới chịu xuất tiền.”
Hạ Hà đi đưa đậu phụ từ bên ngoài trở về, vừa vỗ tay vừa cười nói: “Đại nương, phải như thế mới đúng chứ! Cứ phải vỗ thẳng vào mặt bọn họ một vố thật đau, nhà mình đâu phải hạng để người ta muốn bắt nạt là bắt nạt đâu.”
Cô ấy vốn không phải người nhà này, mà là dân tị nạn từ phương Bắc chạy tới. Cả nhà đều đã chết sạch, chỉ còn lại mỗi mình cô ấy đơn độc, bà Chu thấy tội nghiệp nên mới nhận về cưu mang trong nhà.
Bà Chu cười ha hả, gật đầu tán thưởng: “Ngươi nói chí lý! Lần sau ta sẽ dắt ngươi theo cùng, để ngươi tận mắt chứng kiến cho bõ ghét.”
Tần Thư dở khóc dở cười khuyên ngăn: “Dẫu sao cũng là người một nhà, tuy có lời qua tiếng lại nhưng ruộng vườn dưới quê vẫn phải nhờ cậy người ta trông nom giúp, mọi người đừng làm quá gay gắt mà hỏng việc đấy ạ.”
Chu Hoành Sinh cũng đồng tình: “Mẹ à, tỷ tỷ nói đúng đấy ạ. Nếu mình làm họ phật ý quá mức, đến lúc gieo mạ người ta chỉ cần giở chút thủ đoạn thôi là mấy mẫu ruộng nước của nhà mình coi như mất trắng, chẳng thu hoạch được gì đâu.”
Tần Thư thấy bà vẫn còn chưa xuôi cơn giận, liền bưng một tách trà đến khuyên giải: “Cũng không cần thiết phải tranh cãi lời ra tiếng vào làm gì. Cứ mỗi năm đến dịp tế tổ, mẹ cứ ăn vận thật lộng lẫy và sang trọng mà về quê, bấy nhiêu thôi cũng đủ khiến đại bá mẫu mất ăn mất ngủ rồi. Hiện giờ mẹ sống sung túc hơn đại bá mẫu, mẹ càng sống tốt bao nhiêu thì bà ấy lại càng hậm hực bấy nhiêu.”
Bà Chu nghe xong liền vỗ tay khen hay: “Câu này nói chí lý thật! Để xem ta về đó phô trương vài lần, có làm mụ già đó tức chết không.”
Đến lúc phố xá lên đèn vào buổi tối, mấy người phụ nhân được thuê dệt vải cũng đã tan làm về nhà. Hạ Hà tự mình xuống bếp nấu cơm, chỉ xào vài đĩa thức ăn đơn giản, rồi bưng bát canh cá diếc nấu đậu phụ đặt vào chính giữa, múc cho mỗi người một bát lớn: “Đại nương, tiểu thư, thiếu gia, mọi người nếm thử món canh này đi ạ. Nô tỳ làm đúng theo cách tiểu thư chỉ, nước canh hầm ra quả nhiên có màu trắng sữa thế này đây.”
Tần Thư nếm thử một ngụm, đương nhiên không quên khen cô ấy một câu: “Rất ngon.” Rồi nàng quay sang nói với bà Chu: “Con nghe người ta bảo, Ôn Lăng tiên sinh đang giảng học tại thư viện Vạn Tùng ở Hàng Châu, con muốn dẫn Hoành Sinh đến đó xem sao. Người ta thường nói ‘đọc vạn cuốn sách không bằng đi vạn dặm đường’, cũng nên để đệ ấy ra ngoài mở mang tầm mắt với những sĩ tử khác. Không biết ý mẹ thế nào ạ?”
Chu Hoành Sinh cũng phụ họa theo: “Con nghe nói Ôn Lăng tiên sinh này là bậc đại tài, trước đây từng làm Tri phủ ở Vân Nam. Mỗi lần ông ấy giảng bài, số người đến nghe đông tới hàng ngàn người.”
Bà Chu tự biết mình không có kiến thức sâu rộng như Tần Thư, nay thấy nàng đề xuất như vậy, lại nhìn thấy vẻ mặt khao khát muốn đi của Chu Hoành Sinh, bà liền gật đầu: “Hai đứa đã muốn đi thì ta đương nhiên là đồng ý. Chỉ là ta e đường xá xa xôi không an toàn, mà chi phí đi lại chắc cũng tốn kém lắm.”
Chu Hoành Sinh nhìn sang Tần Thư, nàng mỉm cười đáp: “Mẹ không phải lo chuyện đó đâu ạ, món đồ thêu trên tay con đây chỉ tầm bảy tám ngày nữa là xong rồi. Vì là hàng đặt gấp, họ đang cần gấp nên trả cho con tận năm lượng bạc, đó là còn chưa tính tiền tơ sợi đấy.”
Hồi Tần Thư mới đến Dương Châu, đồ nàng thêu chẳng có nơi tiêu thụ, phải nhờ bà Chu nhờ vả người quen cho gửi bán ở các cửa tiệm. Khi ấy, dù làm lụng không ngơi nghỉ chút nào, mỗi tháng nàng cũng chỉ kiếm được một, hai mươi lạng bạc vụn. Giờ đây, khi đã dần quen thuộc với nơi này và quen biết nhiều tiệm thêu hơn, lại thêm việc Tần Thư chủ động nhường bớt lợi nhuận, nên mỗi tháng nàng cũng kiếm được ba, bốn lượng bạc, đủ để chi tiêu trong nhà mà vẫn có dư dả.
Bà Chu giật mình kinh ngạc: “Là hộ nào mà ra tay hào phóng vậy con? Nếu mà giữ được mối lâu dài, cứ nhận việc của nhà người ta thì chẳng phải tốt quá sao?”
Tần Thư đáp: “Dạ, là tiểu thư nhà họ Tống buôn muối ạ. Những gia đình như họ vốn dĩ chẳng đời nào đi mua đồ thêu bên ngoài. Chỉ là con nghe nói vị tiểu thư này xuất giá gấp quá, thợ thêu trong nhà làm không xuể nên họ mới tìm đến con đặt một bức bình phong thêu. Cũng nhờ bà chủ tiệm thêu nâng đỡ chiếu cố mối này cho con, nên chắc mai mốt con phải chuẩn bị chút quà cáp qua nhà cảm ơn người ta một tiếng.”
Bà Chu nghe xong liền tặc lưỡi: “Con gái nhà buôn muối à? Chỉ sợ chẳng biết là loại ‘ngựa gầy’ mua ở đâu về, rồi định mang đi cung phụng cho vị nào đây?”
(Ngựa gầy: chỉ những cô gái nhà nghèo xinh đẹp, được mua về dạy dỗ để tặng cho các quan lại và quý tộc thời xưa.)
Tần Thư dĩ nhiên hiểu rõ “ngựa gầy” này là gì, chỉ có Hạ Hà là không biết, cứ tròn mắt lên hỏi: “Cái gì cơ ạ? Tặng người ta một con ngựa gầy mà còn phải thêu cả bình phong gửi kèm theo sao?”
Bà Chu vỗ nhẹ vào đầu Hạ Hà: “Ta đang nói chuyện với tiểu thư, ngươi xen mồm vào cái gì? Ăn cơm của ngươi đi.”
Sau khi cơm nước xong xuôi và tắm rửa sạch sẽ, bà Chu vẫn nán lại trong phòng Tần Thư một hồi lâu để giết thời gian. Bà hạ thấp giọng nói: “Bằng Nhi cô nương, hôm nọ có một gã thương nhân hành hương đi ngang qua Nam Kinh, ta có nhờ hắn ghé qua nhà cô xem thử. Hắn bảo thấy trước cửa nhà cô có người canh gác nghiêm ngặt lắm. Gã thương nhân ấy cũng chẳng dám lại gần hỏi han, chỉ đứng ở đầu phố quan sát một lúc. Người trong nhà thì vẫn bình an, không thấy có biến cố gì lớn.”
Tần Thư khẽ thở dài một tiếng: “Được vậy thì tốt quá, chỉ sợ lại làm liên lụy đến bọn họ.”
Bà Chu cẩn thận khép cửa lại, rồi thấp giọng khuyên nhủ: “Tính ra từ lúc cô trốn thoát đến nay cũng đã hơn ba tháng rồi. Bên ấy chẳng biết còn định cho người canh giữ đến bao giờ, xem chừng không phải chuyện dễ dàng buông tay đâu. Cô nương à, không phải tôi lắm lời, nhưng cô cũng nên sớm tính kế lâu dài đi thôi. Chỉ e lỡ có sơ hở chỗ nào, người ta lần ra được dấu vết tìm đến tận đây thì khốn.”
Tần Thư lặng lẽ nhìn ánh nến lung linh mà không nói lời nào, lại nghe bà Chu bên cạnh lải nhải: “Bằng Nhi cô nương, xét theo lý mà nói, với dung mạo và tài năng của cô, dù là gả cho mấy ông địa chủ có vài trăm mẫu ruộng thì vẫn còn dư dả chán. Thế mà từ lúc đến chỗ ta, ngay đến một chỗ tử tế cũng chẳng có. Ta nói ra cách này, nếu có gì không phải thì cô đừng có giận nhé.”
Tần Thư đáp: “Người cứ nói đi ạ.”
Bà Chu nói: “Phủ đệ bên ấy chẳng biết lúc nào sẽ tìm đến đâu, tốt nhất là cô nương nên tìm một gia đình tử tế mà gả đi cho rồi. Một khi ván đã đóng thuyền, lẽ nào vị đại thiếu gia kia còn dám bắt cóc cô về sao? Những người khác thì không nói, nhưng có vị Vương thư lại ở phủ đường, chính là người đã giúp cô làm hộ tịch đấy. Ngài ấy là người Dương Châu gốc, biết chữ nghĩa, nhà đời đời đều làm nha lại trong nha môn, gia sản cũng chẳng phải dạng vừa. Đáng quý hơn cả là ngài ấy là người tốt; người vợ trước lâm bệnh, ngài ấy đã bỏ ra cả một hai trăm lượng bạc để chạy chữa mà chẳng hề nửa lời oán thán…”
Tần Thư ngắt lời bà, tìm đại một cái cớ: “Đại nương, có chuyện này ta chưa nói với bà. Trước kia khi còn theo hầu Đại thiếu gia, lần nào ta cũng phải uống canh tránh thai, tính ra ít nhất cũng đã uống không dưới mấy chục bát rồi. Ta đã tự mình lén đi khám thầy thuốc, loại thang thuốc đó dược tính rất mạnh, ta… đã không còn khả năng sinh con được nữa. Mỗi tháng đến kỳ kinh nguyệt, ta đau đớn đến mức không chịu nổi, đó chính là chứng bệnh để lại từ hồi uống canh tránh thai ấy.”
Bà Chu nghe xong mà bàng hoàng như bị sét đánh ngang tai, bà buông một tiếng thở dài thườn thượt: “Lũ người trời đánh thánh đâm ấy, sao mà chúng nó thất đức, hại người đến nông nỗi này cơ chứ! hèn chi mấy tháng nay cứ có người đến dạm hỏi là cô đều gạt đi bảo không muốn, tôi cứ ngỡ là do cô có yêu cầu cao, hóa ra lại là vì lẽ này. Cái đám nhà giàu cửa cao nhà rộng ấy, vốn dĩ có coi đám người hầu kẻ hạ là con người đâu. Cứ tưởng ai ai cũng muốn trèo cao bám víu vinh hoa phú quý, đã bắt con gái nhà người ta làm cái việc ấy, lại còn chẳng cho người ta sinh con đẻ cái, cứ thế mà làm hỏng hết cả thân xác người ta rồi.”
Bà vừa nói vừa nhớ lại những chuyện đau lòng của chính mình thuở còn ở trong phủ, thế là vừa chửi rủa vừa khóc nức nở. Ngược lại, Tần Thư phải đặt đồ thêu trên tay xuống để an ủi bà: “Đừng bận tâm chuyện trước kia thế nào nữa, giờ chúng ta sống tốt là được rồi. Dẫu sao mọi người vẫn còn giữ được mạng sống, chứ trong cái phủ ấy chẳng biết có bao nhiêu người đến mạng cũng không còn, tính ra chúng ta vẫn còn là may mắn lắm.”
Bà Chu khóc một hồi lâu, vừa sụt sùi vừa nấc lên một tiếng: “Cũng đúng, chúng ta giờ có cái ăn cái mặc, tính ra vẫn hơn khối người. Chỉ là vị Vương thư lại kia một lòng thành tâm, con người lại thực sự quá tốt, thật là đáng tiếc…”
Cảm xúc của bà đến nhanh mà đi cũng vội, bà lau nước mắt rồi chuẩn bị về phòng ngủ, không quên dặn dò: “Cô nương nhớ đóng kỹ cửa nẻo, kẻo mấy tên lưu manh vô lại ngoài phố phía bên kia sông lại dòm ngó vào phòng đấy.”
Đợi bà Chu đi khỏi, Tần Thư thắp đèn dầu lên làm thêm một canh giờ thêu thùa nữa, sau đó mới tắt đèn lên giường nghỉ ngơi.
Sáng hôm sau, khi trời vừa hửng sáng, bà Chu đã thức dậy, dẫn theo Hạ Hà lúi húi rửa dọn trong sân để chuẩn bị làm đậu phụ. Bà mang chỗ đậu đã ngâm kỹ ra đãi lại một lượt rồi bảo Hạ Hà: “Hạ Hà, ngươi vào nhóm lửa đi.”
Đến lúc Tần Thư thức giấc, cả sân đã sực nức mùi đậu thơm lừng. Nàng khoác thêm chiếc áo rồi bước ra, vừa vặn thấy Hạ Hà đang bưng một bát sữa đậu nành nóng hổi: “Tiểu thư, người mau uống bát sữa nóng này đi, đây là nước đầu tiên của mẻ này đấy, bổ dưỡng lắm.”
Tần Thư bưng bát lên hớp một ngụm, vị vừa thơm vừa thanh ngọt, chẳng chút mùi nồng của đậu sống. Nàng đứng tựa cửa bếp, thấy bà Chu bị hơi nước bốc lên làm cho gương mặt đỏ hồng rạng rỡ, bà đang xắn tay áo chuẩn bị đổ nước muối vào chảo lớn để kết tủa đậu phụ.
Bà Chu thoáng thấy nàng liền vội xua Tần Thư ra ngoài: “Trong này ám mùi khói lửa lắm, nhỡ đâu lại ám hết vào quần áo thì khổ. Con ra ngoài nghỉ ngơi đi, ta làm loáng cái nửa canh giờ là xong ngay ấy mà.”
Tần Thư liền khuyên bà: “Việc làm đậu phụ này mỗi ngày đều vất vả như vậy mà cũng chỉ kiếm được hơn trăm văn tiền. Mẹ cứ ngủ thêm một chút, giữ gìn sức khỏe còn đáng giá hơn số tiền này nhiều.”
Bà Chu cười ha hả một tiếng: “Ta mới có hơn bốn mươi chứ mấy, sao mà ngồi không được, để lâu là xương cốt lười biếng đến hỏng hóc hết cả đấy. Đợi đến khi ta năm mươi tuổi, để hai tỷ đệ con phụng dưỡng tuổi già cũng chưa muộn mà.”
Tần Thư vừa uống xong bát sữa đậu nành và đang định bước ra ngoài thì thấy Hạ Hà mở cửa, dẫn một người đi vào.
Vị khách đến là một cô nương tầm mười lăm mười sáu tuổi, khoác trên mình bộ tầm y màu hồng đào bằng lụa, tóc búi kiểu song nha, trên đầu đeo một chiếc vòng anh lạc làm bằng vàng vụn tinh xảo. Vừa trông thấy Tần Thư, cô nương ấy liền hành lễ trước, rồi mỉm cười hỏi: “Xin hỏi, đây có phải là Chu cô nương không ạ?”
Tần Thư gật đầu đáp lễ: “Không dám nhận lời xưng hô ấy, tôi đã xuất giá rồi, cứ gọi tôi là Chu nương tử là được.”
Vị cô nương kia liền mỉm cười nói tiếp: “Chu nương tử, lão thái thái nhà tôi hôm qua đã xem qua mẫu thêu của nương tử, bà thích lắm. Bà bảo đường kim mũi chỉ không giống kiểu cũ thường thấy ở Dương Châu ta, mà trông lại giống lối thêu cung đình của quan lại ở Nam Kinh ấy. Vừa hay, nhà phu quân của tiểu thư nhà tôi cũng có tổ tịch ở Nam Kinh, nên muốn mời nương tử qua phủ dạy tiểu thư học thêu.”
Bà Chu vừa nghe thấy vậy liền vội vã đon đả chạy ra, vừa giục Hạ Hà bưng trà, vừa lăng xăng dọn bánh trái: “Chẳng hay quý phủ ở đâu? Được như vậy thì thật là vinh hạnh cho nhà chúng tôi quá.”
Tần Thư lại có ý muốn thoái thác, nàng nói: “Tôi hiện vẫn đang trong thời gian để tang, mà tiểu thư quý phủ lại đang có hỷ sự, chỉ e sự hiện diện của tôi sẽ mang lại điều không may, làm mất đi cái vận đỏ của tiểu thư thôi.”
Cô nương kia nghe xong liền cười bảo: “Nhà chúng tôi vốn chẳng kiêng dè mấy chuyện đó đâu, nếu mà tin thì sao lão thái thái còn dám nhờ Chu nương tử thêu bình phong cho được? Lão thái thái cũng nói rồi, việc này chẳng làm mất nhiều thời gian của nương tử đâu, cùng lắm cũng chỉ nửa tháng thôi, vì tháng sau tiểu thư nhà tôi đã xuất giá rồi. Trong nửa tháng này, nương tử cứ ở lại trong phủ chúng tôi, đến lúc tiểu thư lên kiệu hoa chắc chắn sẽ có một khoản hậu tạ phong hậu.”
Nghe đến đây thì rõ là nhà họ Tống chuyên buôn muối kia rồi. Hơn phân nửa công việc thêu thùa của Tần Thư đều là nhận từ nhà họ, thật chẳng tiện làm mất lòng, nàng đành phải nhận lời: “Đã là ý của lão thái thái thì tôi xin tuân mệnh, chỉ sợ tay nghề mình còn non kém, chẳng dạy bảo được gì nhiều cho tiểu thư.”
Bà Chu nghe vậy liền sờ vào thắt lưng lấy ra một nắm tiền lẻ, rồi dúi vào tay cô nương kia: “Nhà chúng tôi vốn là dân đen hèn mọn, chẳng mấy hiểu biết sự đời, còn phải nhờ cô nương đây chỉ bảo thêm cho nhiều điều. Bằng không lỡ có va chạm hay đắc tội với các bậc bề trên trong phủ, thì thật là không nên.”
Con bé tiểu nha hoàn kia vốn là hạng hám tài, với nó thì “chân muỗi cũng là thịt”, vừa nhận tiền xong liền hớn hở hé lộ: “Tiểu thư nhà tôi không ở trong phủ chính, mà cư ngụ tại Hà Phong tiểu trúc. Nơi đó chỉ có mình tiểu thư, tuyệt đối không lo va chạm với các vị chủ tử khác. Chẳng giấu gì Chu nương tử, việc mời người tới đây vốn là ý của lão thái thái. Tiểu thư nhà tôi vốn không thạo việc nữ công gia chánh, tính tình lại ưa thanh tịnh, e rằng bình thường cũng chẳng mấy khi triệu người đến trước mặt hầu hạ đâu.”
Tần Thư không quen biết tiểu nha đầu này, sợ không rõ gốc tích nên tìm cớ giữ cô ta lại một lát, đồng thời bảo Hạ Hà đi mời người nương tử ở tiệm thêu vốn có quen biết với nhà họ Tống đến.
Vị nương tử kia vừa thấy tiểu nha đầu thì đúng là có quen biết, hai người trò chuyện một hồi. Sau khi người kia đi khỏi, nương tử tiệm thêu mới tiết lộ cho Tần Thư chút nội tình: “Cô không biết đâu, tiểu thư này của nhà họ Tống là nhận nuôi từ bên ngoài, chẳng có một chút quan hệ huyết thống nào cả. Nàng ta vốn là nữ tử bước ra từ Trần gia đại viện, từng bị Túy Tiên Cư mua về để chuẩn bị treo biển tiếp khách, không hiểu sao lại được nhà họ Tống mua lại, hiện giờ vẫn đang ở tại Hà Phong tiểu trúc. Tôi cũng đã tới đó đưa đồ vài lần, thấy đúng là dáng vẻ gả đi làm chính thất, đến cả áo cưới cũng đã thêu xong xuôi rồi.”
Trần gia đại viện là nơi nổi tiếng đào tạo ca kỹ, chuyên làm nghề buôn bán “ngựa gầy”. Họ mua con gái nhà nghèo về rồi dày công dạy dỗ: loại tư chất hạng nhất thì dạy thổi sáo, đánh đàn, ca hát, cầm kỳ thi họa và đủ mọi ngón nghề lấy lòng đàn ông, loại hạng hai thì dạy cho biết mặt chữ, biết gẩy bàn tính và tính toán sổ sách, còn loại hạng ba thì dạy nữ công gia chánh, thêu thùa bếp núc và đạo trị gia.
Nghe đến đây, Tần Thư liền hiểu ra ngay. Những nơi thị phi thế này nàng tuyệt đối không muốn dính dáng đến, bèn nói: “Nói vậy thì e là tôi không thể đi được rồi.”
Nương tử tiệm thêu xua tay: “Theo tôi thì đi được chứ. Cô không biết đâu, chuyện hôn sự nhà này kể ra cũng lạ, cô nương kia ngày nào cũng làm mình làm mẩy, hiện giờ đã bị quản thúc chặt chẽ rồi. Ngoại trừ lão thái thái nhà họ Tống ra thì chẳng ai được phép vào quấy rầy, cực kỳ thanh tịnh. Nhà buôn muối vốn là hạng người coi tiền như rác, cô cứ đi chuyến này thì tiền chi tiêu ăn uống cho cả năm cũng dư dả rồi.”