Mười Hai Ngày Trên Bán Đảo Scandinavia

Chương 43: Ngoại truyện 3: Biện Xá Xuân du ngoạn xứ thần tiên (3)

Trước Tiếp

Sau đó, mỗi ngày Biện Xá Xuân đều chúc Văn Vu Dã ngủ ngon vào mười một giờ. Hiếm có một lần bị trễ, mười phút sau anh gửi bù, còn giải thích thêm một câu: “Vừa nãy quản lý ký túc xá đột nhiên đến kiểm tra, em sợ muốn chết.”

Văn Vu Dã giận dỗi hơn anh tưởng. Hắn vẫn không bao giờ trả lời tin nhắn chúc ngủ ngon của anh, cũng không nói chuyện gì mấy. Nhưng thỉnh thoảng lại thả vài tập tài liệu ôn tập của lớp chọn vào khung chat, kèm theo một số ghi chú và chú thích của mình. Những tài liệu này phù hợp với trình độ của Biện Xá Xuân thời cấp ba, nhưng không phù hợp với linh hồn hiện tại. Anh nhìn qua là buồn ngủ.

Biện Xá Xuân chui vào chăn, chọc màn hình điện thoại, cười lạnh, may mà em không gặp anh năm mười bảy tuổi, nếu không nhất định em sẽ lén lút mắng anh mỗi ngày, đồ hay ra vẻ.

Thời gian gặp mặt ở trường vào ban ngày không nhiều, Biện Xá Xuân giảm bớt thời gian ngủ gục trên bàn sau giờ học. Một mặt là do quen dần với thời khóa biểu cấp ba, mặt khác là đứng trên hành lang có thể thấy lớp chọn khối mười hai phía đối diện. Ở cửa luôn có một anh chàng đẹp trai tựa vào lan can, hai tay đan vào nhau. Nhìn từ xa dưới ánh mặt trời, bóng dáng ấy vừa mơ hồ vừa sắc nét. Mặc dù tính cách hơi kiêu ngạo, nhưng được trông thấy mỗi ngày, Biện Xá Xuân vẫn cảm thấy tâm trạng tốt hơn.

Tâm trạng tốt hơn, Biện Xá Xuân quyết định tạm thời tha thứ cho tính tình trẻ con đó của hắn. Anh chụm tay trước miệng, hét to: “Văn Vu Dã!”

Tiếng hét này của anh quá vang, khiến những bạn học xung quanh ngoái nhìn. Có bạn sáp lại cười vỗ vai anh, cũng nhìn sang phía đối diện.

Văn Vu Dã chống khuỷu tay lên lan can, vẫy tay về phía anh, gần như chỉ là tùy ý lắc nhẹ một cái xem như chào hỏi.

“Chậc.” Biện Xá Xuân bất mãn nhìn hắn. Nghĩ đến việc cách xa thế này chắc chắn hắn không thấy rõ biểu cảm của mình, anh càng bực hơn, quyết định hôm nay không điểm danh nữa, coi như trừng phạt thái độ đối phó của hắn.

Tuy nhiên, giờ giải lao buổi tối hôm đó, Văn Vu Dã tự mình đến tìm anh. Tay xách túi giấy in logo tiệm bánh kem ở cổng trường, vươn qua cửa sổ đặt thẳng lên bàn anh.

“Này, bài kiểm tra của em còn bày ở kia kìa.” Biện Xá Xuân không khách sáo gõ bút vào cổ tay hắn, chỉ là lực rất nhẹ, nhẹ đến mức như lông chim quét qua, Văn Vu Dã lập tức rụt tay lại.

Văn Vu Dã liếc mặt bàn ngổn ngang mang tính nghệ thuật của anh, không biết bài kiểm tra anh nói là bài nào. Trong mắt hắn, những bài kiểm tra đó không thể coi là “bày ra”, ít nhất cũng phải ủi mười phút. Hắn cạn lời: “Có giây bẩn đâu mà sợ.”

“Ôi, anh đến còn mang theo cái gì…” Biện Xá Xuân cười, nói thì nói vậy chứ vẫn mở túi giấy, “Bánh mochi vị trà xanh?”

“Chẳng phải hôm qua cậu bảo muốn ăn à.”

“Anh xem hết à.” Biện Xá Xuân chống cằm, ngước đầu nhìn hắn cười, “Tại anh không trả lời nên em xem anh như sổ ghi nhớ vậy đó.”

Văn Vu Dã khựng lại, định dùng ánh mắt lên án, nhưng phát hiện đối phương không hề hấn gì, vẫn cười không để tâm. Hắn đành lựa chọn bỏ qua chủ đề này, đồng thời bỏ qua sự chột dạ vì không trả lời tin nhắn: “Cậu ở ký túc xá, không ra ngoài được còn gì? Mua bằng cách nào.”

Biện Xá Xuân cạn lời, vừa bóc gói bánh vừa liếc hắn: “Trèo tường chứ sao.”

Văn Vu Dã lại im lặng.

“Bao nhiêu tiền thế? Em trả anh, không thể ăn không của anh được.” Biện Xá Xuân vừa nhai mochi, vừa thoải mái tựa lưng vào bàn học phía sau, bắt chéo chân ghế lắc qua lắc lại.

“Không đắt bằng album.” Văn Vu Dã dùng giọng điệu dửng dưng như việc công giải quyết theo phép công, “Tôi biết chuyện dạy kèm chỉ là cậu nói bừa, tôi chẳng dạy được gì. Cái đó cũng không tính.”

Nhịp rung lắc của Biện Xá Xuân dừng lại. Anh nheo mắt, cười như không cười nhìn Văn Vu Dã: “Vậy à.”

Thời học sinh có một điều rất tốt, nếu bạn không muốn tiếp tục nói chuyện với bất kỳ ai thì có thể dùng những lý do bách phát bách trúng như “sắp vào lớp” hay “chưa làm xong bài tập” để lảng tránh. Đây là điều Biện Xá Xuân mới phát hiện ra gần đây, bởi vì mỗi lần Văn Vu Dã không biết tiếp lời anh thế nào, hắn lại giả vờ xem đồng hồ, rồi vội vàng lấy cớ vào lớp để rời đi.

Văn Vu Dã thực sự không biết phải làm sao với Biện Xá Xuân. Hắn kết bạn với rất nhiều bạn bè trong môi trường mới, nhưng chỉ có Biện Xá Xuân tỏ ra quen thuộc với hắn hơn hẳn những người đó. Anh dễ dàng biết được sở thích và khuynh hướng của hắn, đôi mắt luôn cười tựa như chứa đựng rất nhiều bí mật, chỉ là không để lộ ra.

Anh mang lại một số thay đổi cho cuộc sống của hắn. Những thay đổi này không dữ dội, nhưng đủ dài lâu và ảnh hưởng sâu sắc. Ví dụ như mỗi tối về nhà, hắn phải mở máy tính trước, rồi mới đặt cặp sách sang một bên và treo áo khoác lên lưng ghế. Văn Vu Dã vừa đọc sách, vừa dành một phần chú ý cho việc theo dõi nhất cử nhất động của màn hình, không khác gì một cậu bé nghiện mạng xã hội.

Hắn không coi đây là chuyện tày trời. Nhưng có một ngày, Biện Xá Xuân không gửi một tin nhắn nào, kể cả lời chúc ngủ ngon. Văn Vu Dã kiên nhẫn chờ đến mười một rưỡi, hoàn toàn tỉnh ngủ.

Hắn nhíu mày, gấp cuốn sách đang đọc, nhìn chằm chằm khung chat vẫn im lìm, tìm chiếc điện thoại lâu không dùng trong ngăn tủ đầu giường.

Số điện thoại của Biện Xá Xuân không khó nhớ. Sau khi bấm dãy số đó, hắn dừng lại. Có lẽ hôm nay anh ngủ sớm hơn một chút. Nếu bây giờ đột nhiên gọi điện, sẽ làm phiền người khác nghỉ ngơi.

Hôm nay xảy ra chuyện gì không? Cũng không có gì đặc biệt. Một ngày đi học hết sức bình thường, không có kỳ thi quan trọng nào. Buổi chiều giảng bài kiểm tra ngày hôm qua, Biện Xá Xuân trông không có gì khác thường. Lúc thấy hắn chơi bóng rổ ở sân thể dục, anh còn huýt sáo trêu chọc.

Văn Vu Dã siết điện thoại, đầu ngón tay lơ lửng trên nút gọi rất lâu, cuối cùng vẫn đặt xuống.

Hắn bước ra khỏi phòng, đi tắt qua con đường nhỏ. Dưới bóng râm của cây đa góc tây bắc của trường, hắn leo vào khu ký túc xá.

Ban công ký túc xá nam quay về phía này, Văn Vu Dã dễ dàng nhìn thấy Biện Xá Xuân đang tựa vào bệ cửa sổ thẫn thờ. Cả tòa nhà tắt đèn. Tối nay không có ánh trăng, bóng dáng ấy chìm vào bóng tối.

Văn Vu Dã ngẩng đầu nhìn anh, cho đến khi anh nhìn sang, trên mặt từ từ xuất hiện nét kinh ngạc. Hắn khẽ cong môi dưới màn đêm, bấm số gọi điện thoại.

Biện Xá Xuân gần như hấp tấp lôi điện thoại trong túi ra. Tiếng rung bị che lấp giữa tiếng ve kêu không biết mệt.

“Sao vậy?” Giọng Văn Vu Dã rất khẽ, như thể sợ làm phiền ai đó, mặc dù hắn đứng ở nơi không làm ồn đến ai. Giọng hắn hơi khác lạ, hiếm khi trở nên dịu dàng.

Biện Xá Xuân nhìn hắn, thở dài một tiếng, thì thầm từng chữ một: “Ban công cách âm không tốt, em nhắn tin cho anh nhé.”

“Ừ.”

Biện Xá Xuân gõ rồi xóa, xóa rồi gõ, không biết phải diễn tả tâm trạng của mình thế nào, đành trình bày sự thật một cách trực tiếp: “Hôm nay đạo diễn em yêu thích nhất qua đời.”

Thật ra tâm trạng của anh bình thản hơn nhiều so với Biện Xá Xuân mười bảy tuổi. Người trưởng thành chứng kiến nhiều cuộc chia ly của người thân cũng như người xa lạ, mọi thứ đều trở nên bình thường. Trong những năm sau khi vị đạo diễn đó qua đời, anh vẫn sống như trước, giống như mọi cuộc chia ly bình thường trên đời.

Nhưng Biện Xá Xuân vẫn có thể hồi tưởng tâm trạng bàng hoàng khi nghe tin dữ năm đó. Vị đạo diễn không phải chết già, dường như vẫn còn rất nhiều ý tưởng cho các tác phẩm chưa hoàn thành, cứ thế bị bệnh tật cướp đi sinh mạng với biết bao tài hoa. Anh xem tin tức mà không thể tin nổi. Ngày hôm đó, anh trùm chăn, xem đi xem lại tác phẩm tạo nên tên tuổi của ông chiếm gần hết bộ nhớ điện thoại, cho đến khi hết pin.

Biện Xá Xuân suýt quên ngày này là ngày nào, cho đến chiều tối xem lại tin tức đó. Trong khoảnh khắc ấy, anh không biết sự hụt hẫng trong lòng là cảm xúc của chính mình lúc này hay là dư âm bi thương của tuổi mười bảy.

“Những thứ mình từng trân trọng, chỉ trong nháy mắt đã trở thành dĩ vãng, song vẫn không khỏi khiến người ta hoài niệm.”

Anh từ từ gõ chữ. Văn Vu Dã thỉnh thoảng đáp lời qua điện thoại. Phần lớn thời gian chỉ có tiếng thở đều đặn và nhẹ nhàng của hắn, hòa lẫn tiếng gió và tiếng côn trùng đồng hành cùng lời kể của anh.

“Lần đầu tiên em xem phim của ông ấy là năm bảy tuổi? Hay tám tuổi, em không nhớ nữa. Chị dẫn em đi xem ở rạp. Em không hiểu hết nhưng rất thích, lén học lời thoại của nhân vật chính.”

“Kỳ nghỉ hè trước khi vào cấp ba, em xem hết tất cả phim của ông ấy. Chủ cửa hàng băng đĩa nhận ra em, nói em là fan cuồng của ông ấy. Đúng vậy. Lúc điên cuồng nhất, một ngày ngoài ăn uống, em dành hai mươi tiếng chỉ xem phim.”

“Anh có biết “phân tích phim” không? Là xem đi xem lại từng khung hình một, để quan sát cách quay, ý đồ, ẩn dụ, hướng phát triển cảm xúc trong mỗi cảnh… Trước khi biết “phân tích phim” là gì, em đã làm như vậy rồi.”

“Mặc dù ông ấy không hề hay biết, nhưng ông ấy chiếm một vị trí quan trọng trong tuổi trẻ của em. Thẩm mỹ, nhận thức về sáng tạo, về điện ảnh hay tình cảm nảy sinh trong em… đều có liên quan với tác phẩm của ông ấy. Hôm nay ông ấy qua đời, em cứ nghĩ đến việc sau này sẽ không bao giờ thấy những tác phẩm được tạo ra bởi một người như vậy nữa lại cảm thấy thời gian thật tàn nhẫn.”

Văn Vu Dã vừa nghe vừa tìm kiếm. Hắn từng xem phim của vị đạo diễn đó. Hắn không thể thấu hiểu hoàn toàn, nhưng vẫn thẫn thờ vì Biện Xá Xuân. Văn Vu Dã im lặng một lúc rồi nói: “Ông ấy có khán giả như cậu chắc chắn sẽ rất vui mừng. Sau này nếu cậu sáng tạo thứ gì đó, nó cũng mang vết tích của linh hồn ông ấy. Ừm… Đôi khi tôi cảm thấy sở dĩ nghệ sĩ được lưu danh muôn đời không nhất thiết chỉ vì tác phẩm của họ, mà còn vì những người đến sau yêu mến tác phẩm của họ, cậu hiểu không?”

Biện Xá Xuân nhìn hắn, ngây người một lúc lâu, sau đó mỉm cười, khẽ thở dài, nói nhỏ với giọng điệu trêu chọc: “Nhà triết học à.”

Văn Vu Dã cười khẽ ở đầu dây bên kia, hỏi: “Bây giờ còn buồn không?”

Biện Xá Xuân thành thật gõ chữ: “Mặc dù anh nói như vậy, nhưng em vẫn hơi buồn.”

Văn Vu Dã suy nghĩ gì đó: “Cậu chờ tôi một lát.”

“Gì cơ?”

Văn Vu Dã bỏ lại một câu “Đừng cúp máy”, bước nhanh khỏi tầm nhìn của anh, hình như chạy về phía giảng đường. Đầu Biện Xá Xuân đầy dấu chấm hỏi, nhưng nếu lúc này nhắn tin, chắc chắn hắn cũng không xem.

Anh chỉ có thể nghe thấy tiếng gió rít truyền tới từ ống nghe, tựa như ngửi thấy không khí nóng nực của đêm hè. Hơi thở của Văn Vu Dã trở nên dồn dập. Sau đó, anh nghe thấy tiếng gió biến mất, kế tiếp là tiếng bước chân vang vọng trong tòa nhà vắng lặng cùng với tiếng cửa mở kẽo kẹt.

“Anh định làm gì?” Biện Xá Xuân nhắn hỏi.

Bên kia không trả lời. Hay nói đúng hơn, câu trả lời là đoạn dạo đầu bằng đàn guitar, là bài hát chủ đề của bộ phim anh quen.

Giai điệu không phức tạp, hợp âm đơn giản du dương, lan tỏa âm hưởng trữ tình trong phòng học nhạc tối om không người. Đàn guitar là đồ dùng chung với chất lượng bình thường, nhưng truyền qua điện thoại, nghe như chiếc máy hát ngày xưa. Bộ phim nhấp nháy từng khung hình giữa tiếng đàn.

Đúng là cách an ủi của học sinh cấp ba, ngoài sự cảm động, trong lòng Biện Xá Xuân còn có một nghi vấn: Người này bảo mình không biết chơi guitar mà! Rốt cuộc trong buổi biểu diễn cuối năm của công ty, hắn đàn thật hay giả!

Chơi xong một bài, Văn Vu Dã lại hỏi: “Bây giờ thì sao?”

“Đỡ hơn nhiều.” Biện Xá Xuân vừa gõ chữ vừa cười, “Anh còn có tài lẻ này nữa sao, nam thần.”

Văn Vu Dã không biết anh còn bao nhiêu cách xưng hô linh tinh, chỉ đáp: “Học từ trước, hơi ngượng tay.”

Biện Xá Xuân tạm gác thắc mắc qua một bên, nhìn về phía phòng học nhạc của giảng đường, thì thầm: “Cảm ơn.”

Anh muốn rút lại lời nói trước đó của mình. Nếu gặp Văn Vu Dã năm mười bảy tuổi, anh sẽ yêu hắn ngay từ tuổi mười bảy.

“Không có gì.”

Hiện tại hơn mười hai giờ. Cảm xúc buồn bã của Biện Xá Xuân đã qua, đột nhiên cảm thấy có lỗi vì làm lỡ việc học của học sinh lớp mười hai: “Anh chạy qua đây vì em khuya thế này… không tốt lắm đâu. Sắp thi đại học rồi.”

Giọng Văn Vu Dã dửng dưng: “Sắp thi đại học, nhưng tôi không trượt đại học chỉ vì một đêm không đọc sách.”

Biện Xá Xuân cười khúc khích, nhớ đến lời nhận xét trước kia của Thời Trác về hắn là “Vua làm màu”. Nhưng làm gì còn cách nào khác, có người thực lực quá mạnh nên ra vẻ một chút, bạn không thể phản bác. Chỉ riêng điểm này, Biện Xá Xuân đoán thời học sinh, số người nhìn thấy hắn là cười và nhìn thấy hắn là bực mình có lẽ tỷ lệ thuận với nhau.

Anh nghe thấy tiếng guitar được đặt xuống. Văn Vu Dã xuống tầng, có lẽ chọn một con đường khác để trèo tường – bản thân hắn trèo tường giỏi như vậy, sao lại không nghĩ người khác muốn ra ngoài mua bánh mochi trà xanh cũng có thể trèo tường chứ: “Vậy tôi về nhé?”

Biện Xá Xuân không biết hắn đang ở hướng nào, chỉ nhìn một ngôi sao trên ngọn cây đa, khẽ hỏi: “Anh có muốn nói thêm gì với em không?”

Bên kia im lặng rất lâu. Anh nghe thấy tiếng Văn Vu Dã trèo tường và giẫm lên chồng gạch, tiếng gạch vụn lăn xuống, tiếng sột soạt của áo đồng phục ngắn tay. Văn Vu Dã tiếp đất, đi thêm một đoạn, mới trả lời: “Ngủ ngon.”

Biện Xá Xuân bật cười: “Ngủ ngon.”

Văn Vu Dã chuẩn bị cúp máy, lại nghe thấy bên kia chậm rãi bổ sung: “Em nghĩ mình sẽ mơ thấy anh.”

Hắn không biết trả lời thế nào, vài lần mở miệng rồi ngậm lại. Một lúc lâu sau, hắn lặng lẽ cúp máy.

Ngày thứ hai của tháng sáu, thời tiết rất nóng. Ban đêm có thể thấy rất nhiều sao. Hành lang giảng đường khối mười một và mười hai chật cứng người. Loa phát thanh được đặt dưới tầng. Biểu ngữ chữ trắng nền đỏ treo trên lan can bị gió thổi phần phật với lời chúc học sinh lớp mười hai khởi đầu thuận lợi, đề tên bảng vàng.

Đây là hoạt động hát vang truyền thống từ nhiều năm trước. Năm nay bắt đầu bằng “Tái hiện kỳ tích”, tiếp theo là “Trời cao biển rộng” và “Ngày nắng”. Học sinh cả ba khối cùng hòa giọng, ôm lấy bạn bè, lén nhìn người mình yêu thầm lau nước mắt. Một lần nữa nghe thấy tiếng hát như vậy, Biện Xá Xuân gần như bị choáng ngợp. Những cảm xúc phức tạp và bồng bột đan xen vào nhau, mỗi loại đều trong sáng.

Biện Xá Xuân biết có lẽ rất nhiều năm sau, họ sẽ không hát to hết sức như thế này nữa. Nhưng đó là điều những thiếu niên của khoảnh khắc này không nghĩ tới. Họ chỉ biết mình sắp được giải phóng, hoặc sắp phải rời xa ai đó, hoặc sắp đón nhận kỳ nghỉ hè tưởng chừng dài như vô tận nhưng thực tế chỉ chớp mắt là qua. Trong mắt họ chỉ có tương lai, tương lai đó rực rỡ và tươi sáng, có thể chứa đựng mọi ảo mộng của tuổi trẻ, giúp họ tràn đầy can đảm chạy về phía phương trời xa lạ.

Anh mang theo linh hồn người trưởng thành đầy bụi trần trà trộn vào đó, vô cùng trân trọng cơ hội hét khàn giọng này. Anh nhìn Văn Vu Dã phía đối diện, hy vọng đôi mắt mình sáng lấp lánh như tuổi mười bảy.

Hiệu trưởng nghe tin mà đến, cầm micro có dây, hát bài “Thủy thủ” với giọng đầy nhiệt huyết. Mọi người nhiệt tình vỗ tay reo hò, đồng thời cực kỳ không nể mặt giật lấy micro của thầy hiệu trưởng rồi tranh giành với nhau. Sau đó tất cả phát hiện tranh giành cũng không có cơ hội biểu diễn, dù sao đến cuối cùng, tiếng hát vẫn bị tiếng hát của tập thể nhấn chìm.

Có một người hát “Bad girl” trước mặt hiệu trưởng. Mọi người vừa hát theo vừa tìm cơ hội hò reo. Các cặp đôi khối mười hai chưa bao giờ càn rỡ đến thế, ỷ vào việc sắp rời khỏi trường, vui vẻ chấp nhận tiếng hò reo của mọi người. Biện Xá Xuân thấy rõ một nam sinh hôn lên trán bạn gái, hiệu trưởng lắc đầu chắp tay sau lưng coi như không thấy gì.

Người chuẩn bị âm thanh là bạn của Biện Xá Xuân. Thấy anh đứng trên tầng xem trò vui, cậu ta không do dự đẩy anh ra, chỉ vào anh hét to: “Để cậu ấy lên! Cậu ấy từng lọt Top 10 giọng ca hồi lớp mười đấy!”

Biện Xá Xuân kinh ngạc và hoảng hốt, anh không nhớ chuyện này!

Anh không nhớ, nhưng bạn bè nhớ rất rõ, cười đùa nhét micro vào tay anh. Danh sách bài hát trong loa tự động chuyển sang bài tiếp theo, là “Letting go” của Thái Kiện Nhã.

Anh không thể từ chối, cũng không cần từ chối. Dựa vào trí nhớ, anh cất tiếng ca: “Đây là lá thư chia tay, viết lý do em nên rời đi…”

Như một linh cảm, anh quay đầu, dễ dàng tìm thấy Văn Vu Dã đang tựa vào lan can. Xung quanh hắn có rất nhiều người, nhưng không ai có ánh mắt nghiêm túc như hắn.

Một giọng nói trong lòng nhắc nhở Biện Xá Xuân nên rời đi.

Anh hát tiếp: “Vai diễn của em trong cuộc đời anh quá mờ nhạt.” Anh mỉm cười, giơ tay lên, chỉ về phía Văn Vu Dã trước mặt mọi người. Trong đêm hân hoan này, khi tương lai và lý tưởng gần kề, mọi chuyện xảy ra đều được cho phép.

“Rốt cuộc em là người yêu hay bạn bè?” Có người bắt đầu hò reo. Có người sửng sốt hét tiếng chửi thề, song tất cả đều cười. Đa số mọi người đều nghĩ đây là một trò đùa. Ánh mắt của một số người yên lặng lướt qua lướt lại hai người.

Văn Vu Dã trông hơi bối rối. Màn đêm khiến màu đỏ lan từ cổ không quá rõ ràng, như thể hắn vẫn còn bình tĩnh. Hắn cúi đầu, ánh mắt né tránh nhưng luôn hướng về phía anh.

Sau khi kết thúc hoạt động hát vang, khối mười hai vẫn phải học thêm một tiết tự học buổi tối, mặc dù gần như không ai có thể tĩnh tâm được nữa. Văn Vu Dã thường là ngoại lệ, nhưng lần này thì không.

Sau khi tan học, Văn Vu Dã mới phát hiện Biện Xá Xuân đứng dưới tầng chờ mình. Hắn không biết nói gì, chỉ lặng lẽ đến bên cạnh anh, thấy anh cầm một hộp bài.

“Đây là Tarot.” Biện Xá Xuân lắc hộp, các lá bài phát ra tiếng động. Anh cười híp mắt nhìn hắn, “Anh muốn bói một quẻ không?”

“Bói gì?”

“Ừm, học vấn hay tình yêu đều được.”

“Vậy tôi chọn tình yêu.” Văn Vu Dã trả lời rất nhanh, tạm dừng rồi bổ sung một câu mang tính châm biếm, “Học vấn còn cần bói sao?”

Biện Xá Xuân bật cười, rút bài ra: “Vậy em đoán mối tình định mệnh giúp anh nhé.”

Sau đó, anh bị chuông báo thức đánh thức. Ký ức trong mơ trở nên mơ hồ, chỉ nhớ được đến đó, thật đáng tiếc.

Anh bước ra khỏi phòng, đầu tiên nghe thấy Tưởng Diễm Huy gọi điện thoại với đồng nghiệp trong phòng tắm, kèm theo tiếng chai lọ mỹ phẩm cầm lên rồi đặt xuống. Đi đến phòng khách thì thấy Văn Vu Dã đứng trong phòng bếp, lấy một quả táo trong tủ lạnh ra rửa, thấy anh dậy thì đặt bánh mì và nước ấm lên bàn ăn.

Biện Xá Xuân nhìn hắn, lại nghĩ đến giấc mơ kia, cười nói: “Tối qua em mơ thấy anh hồi cấp ba.”

Trước Tiếp