Hôn Phu Tuần Phủ Của “Tai Tinh”

Chương 4

Trước Tiếp

Lòng sông cũ của Thanh Hà nằm ở phía Tây thành mười dặm.

Xe ngựa xóc nảy, ta ngồi trên càng xe, ôm hộp thức ăn. Thẩm Tịch cưỡi ngựa đi phía trước, Lý thị vệ — chính là tên tiểu sai đó, tên thật là Lý Trung — đi theo bên xe.

"Lâm cô nương, đừng căng thẳng." Lý Trung khẽ an ủi, "Đại nhân chỉ đi xem thôi, sẽ không làm khó cô nương đâu."

Ta không nói gì.

Xe ngựa ra khỏi thành, cảnh tượng liền thay đổi. Ruộng đất hai bên đường đều nứt nẻ như những nếp nhăn trên mặt người già. Thi thoảng mới thấy vài nông phu đang ngồi xổm trên bờ ruộng, ánh mắt trống rỗng nhìn lên trời xanh.

Một lão nông nhìn thấy đoàn người, bỗng nhiên lao tới quỳ giữa đường.

"Đại nhân! Đại nhân cứu mạng với! Nếu không có nước nữa, hoa màu sẽ hỏng hết! Người cũng không sống nổi đâu!"

Thẩm Tịch ghìm ngựa dừng lại.

Chàng xuống ngựa, đỡ lão nông dậy: "Lão gia gia, lương thực cứu tế của triều đình chẳng phải đã phát rồi sao?"

"Phát rồi, phát rồi!" Lão nông nước mắt lưng tròng, "Nhưng chỉ có lương, không có nước thì lương ăn được bao lâu? Rễ cỏ vỏ cây đều đã l*t s*ch, đất sét trắng ăn vào đến nỗi không đi ngoài được... Đại nhân, ngài làm phúc làm đức, cứu bọn ta với!"

Thẩm Tịch im lặng.

Chàng nhìn về phía lòng sông xa xa — đó chẳng thể gọi là sông mà là một vết sẹo khô khốc nứt nẻ.

"Lần này bản quan tới đây chính là để tìm nước." Chàng nói, "Lão yên tâm, sẽ có nước thôi."

Lão nông tạ ơn rối rít rồi rời đi.

Đoàn người tiếp tục tiến bước. Ta nghe thấy Lý Trung khẽ thở dài: "Đây đã là người thứ tám rồi. Nếu vẫn không có nước, e là sẽ xảy ra loạn lạc mất."

Thẩm Tịch không đáp lời, chỉ có bàn tay nắm dây cương là siết chặt hơn.

Đến bãi sông. Nói là bãi sông, thực ra là một dải đất bùn rộng mênh mông, khô khốc. Chỗ nứt rộng có thể đút vừa nắm tay, chỗ hẹp cũng rộng bằng một ngón tay.

Thẩm Tịch xuống ngựa, ngồi xổm xuống bốc một nắm đất.

Đất có màu xám trắng, bóp nhẹ một cái là tan thành tro bụi.

"Vũng nước ngươi nói ở đâu?" Chàng hỏi ta.

Ta đành liều mình chỉ về hướng Đông: "Ở phía đó... chừng ba dặm."

"Dẫn đường đi."

Ta bước về phía trước, bước chân mỗi lúc một chậm lại. Trong đầu xoay chuyển cực nhanh, định tìm đại một cái cớ — vũng nước cạn rồi? Bị người ta lấp mất rồi? Hay là ta nhớ nhầm?

Nhưng Thẩm Tịch không cho ta thời gian.

Chàng đi phía trước ta, sải bước rất dài, ta theo sau khá vất vả. Đi được khoảng một dặm đường, chàng bỗng dừng lại.

"Đợi đã."

Chàng ngồi xổm xuống, tay mò mẫm trên mặt đất. Sau đó, chàng nhặt một hòn đá lên — to bằng nắm tay, bề mặt nhẵn nhụi, có dấu vết bị dòng nước xối rửa qua.

"Nơi này trước đây từng có nước." Chàng nói rồi nhìn ta, "Nhưng nhúm đất ẩm ngươi đào hôm qua không phải ở đây. Đất ở đây khô khốc cả rồi."

Lòng bàn tay ta bắt đầu rịn mồ hôi.

"Đi tiếp đi." Chàng đứng dậy, tiếp tục tiến về phía trước.

Đi thêm nửa dặm, chàng lại dừng lại lần nữa.

Lần này, chàng ngồi xổm bên một khe nứt, thò tay vào trong mò mẫm. Mò một lát, chàng rút tay ra, đầu ngón tay dính một chút bùn ẩm màu sẫm.

"Ở đây." Chàng nói rồi ngẩng đầu nhìn ta, "Dưới đất ba thước có đất ẩm. Nhưng đất trong gùi ngươi hôm qua còn ẩm hơn thế này, màu cũng đậm hơn. Chứng tỏ ngươi đã đào sâu hơn, hoặc là... đào ở một nơi khác."

Tim ta đập như trống chầu.

Chàng sắp phát hiện ra rồi. Phát hiện ta nói dối, phát hiện ta có một cái giếng riêng.

"Lâm Vãn Hòa." Chàng gọi đầy đủ tên ta, lần đầu tiên, "Ngươi đang sợ điều gì?"

Ta cắn môi, không đáp.

"Sợ ta biết ngươi có nước sao?" Chàng đứng dậy, phủi bụi đất trên tay, "Sợ ta cướp nước của ngươi? Hay là sợ người trong làng biết ngươi có nước thì sẽ đến cướp?"

Ta đột ngột ngẩng đầu.

Chàng đã biết. Chàng sớm đã biết rồi.

"Nhúm đất ẩm trong gùi ngươi hôm qua có mùi rêu xanh." Thẩm Tịch nói, "Đất ẩm ngoài bãi sông không có mùi đó. Chỉ có thành giếng tiếp xúc với ánh sáng và nước lâu ngày mới mọc loại rêu ấy."

Chàng tiến lại gần ta một bước: "Ngươi có một cái giếng, đúng không?"

Ta lùi lại một bước, va vào xe ngựa.

"Cha ngươi là quan nhỏ coi sóc sông ngòi, ngươi hiểu thủy lợi, biết tìm mạch nước." Chàng tiếp tục ép sát, "Ngươi đã đào một cái giếng ở hậu viện nhà mình, không dám cho ai hay. Bởi ngươi biết, một khi để người ta biết được thì cái giếng đó sẽ không còn thuộc về ngươi nữa."

"Ta không có..." Giọng ta run rẩy.

"Ngươi có." Chàng dừng lại, chỉ cách ta một bước chân, "Hơn nữa cái giếng đó ra nước khá tốt. Nếu không ngươi đã chẳng mạo hiểm đi đào rau dại — đào rau dại phải đi rất xa, rất tốn sức. Một kẻ sắp chết đói sẽ không làm chuyện ngu ngốc như vậy. Trừ phi người đó có chỗ dựa, biết mình sẽ không chết đói."

Ta đã không còn đường lui.

"Dẫn ta đi xem cái giếng đó." Chàng nói, "Ngay bây giờ."

Trên đường về làng, ta ngồi trong xe ngựa hệt như một tù nhân.

Thẩm Tịch cưỡi ngựa theo bên xe, Lý Trung đánh xe. Không ai nói gì, chỉ có tiếng vó ngựa và tiếng bánh xe lăn.

Người trong làng thấy đoàn người thì lại vây quanh. Nhìn thấy ta ngồi trong xe, ánh mắt họ càng thêm phức tạp.

"Sao chổi sao lại quay về rồi?"

"Còn ngồi cả xe của Tuần phủ đại nhân nữa? Chà chà..."

Thẩm Tịch không để tâm, trực tiếp bảo Lý Trung đánh xe đến cửa nhà ta.

Ta xuống xe, đẩy cổng viện. Đống rơm sau vườn vẫn còn đó, giếng vẫn được đậy kỹ càng.

Thẩm Tịch theo ta vào trong, liếc nhìn sân vườn một lượt: "Ở đâu?"

Ta đi đến bên đống rơm, lật tấm ván gỗ lên.

Miệng giếng lộ ra, sâu hun hút. Trên thành giếng quả nhiên mọc đầy rêu xanh, ướt sũng.

Thẩm Tịch ngồi xổm xuống, múc nửa thùng nước lên. Nước trong vắt, sóng sánh trong thùng.

Chàng dùng tay vốc một ngụm, uống thử.

"Ngọt lắm." Chàng nói rồi nhìn ta, "Ngươi đào sâu bao nhiêu?"

"Bảy trượng." Ta đáp, "Sau đó đào chéo sang ngang một trượng mới có nước."

"Tại sao lại đào chéo?"

"Cha ta từng nói, mạch nước cũng như mạch người, có nhánh chính nhánh phụ. Đào thẳng không thấy nước thì có lẽ là đã đào trúng phần cuối của nhánh phụ. Đào chéo thì may ra tìm được chỗ phân nhánh của mạch chính."

Mắt Thẩm Tịch sáng rực lên.

Chàng đứng dậy, đi quanh sân hai vòng, đột nhiên hỏi: "Cái giếng này một ngày ra được bao nhiêu nước?"

"Nửa thùng." Ta nói, "Rất chậm. Chỉ đủ cho một mình ta uống và tưới ít rau."

"Nếu đào sâu xuống thêm ba trượng nữa thì sao?"

"Có lẽ sẽ nhiều hơn, nhưng cũng chẳng đáng là bao." Ta lắc đầu, "Cái giếng này là nhờ nước thấm từ sông ngầm của lòng sông cũ, không phải nguồn nước sống. Lượng nước sông ngầm có hạn, đào sâu đến mấy cũng vô dụng."

Thẩm Tịch im lặng.

Chàng đi tới bên giếng, nhìn làn nước thêm lần nữa rồi quay lại nhìn ta: "Ngươi có biết khắp vùng Giang Nam này có bao nhiêu dòng sông ngầm như thế này không?"

Ta ngẩn người.

"Trong bút ký của cha ngươi có ghi chép về chuyện này không?"

Ta nhớ lại một chút: "Có. Cha nói Thanh Hà từng đổi dòng ba lần, mỗi lần đều để lại lòng sông cũ bỏ hoang. Có cái trên mặt đất, có cái dưới lòng đất. Những cái dưới lòng đất nếu điều kiện địa chất phù hợp sẽ hình thành sông ngầm."

"Có thể tìm ra chúng không?"

"... Có thể, nhưng khó lắm." Ta nói, "Cần phải khảo sát địa hình, phân tích thổ nhưỡng, còn phải xem tinh tượng, ghi chép lượng mưa... Cha ta tốn mười năm cũng chỉ tìm thấy ba dòng."

"Ba dòng là đủ rồi." Thẩm Tịch nói, ánh mắt rạng rỡ, "Ba dòng sông ngầm, nếu đều đào được lên thì ít nhất có thể cứu sống được ba ngôi làng."

Chàng đi tới trước mặt ta, nhìn sâu vào mắt ta: "Lâm Vãn Hòa, ta có một ý tưởng."

Tim ta lại bắt đầu đập nhanh.

"Ta muốn khơi lại dòng Thanh Hà." Chàng nói, "Không phải là đào mấy cái giếng nhỏ lẻ mà là đào thông lại lòng sông cũ, dẫn nước sông ngầm ra ngoài sáng, tưới tiêu cho vạn mẫu ruộng màu."

Trước Tiếp