Chào mừng bạn đến với cộng đồng truyện lớn nhất VN - Metruyen.tv
Chào mừng bạn đến với cộng đồng truyện lớn nhất VN - Metruyen.tv
Tạ Duẫn Minh lặng lẽ nằm trên sập.
A Nhược đích thân lôi vị thái y còn đang trong chăn ra ngoài, lão ôm chặt hòm thuốc, loạng choạng chạy theo suốt dọc đường.
Từng cây ngân châm mảnh như lông trâu lần lượt được châm vào lồng ngực trần cùng các huyệt vị nơi cổ bên của Tạ Duẫn Minh.
A Nhược đứng cứng một bên, tay chân lạnh ngắt, ánh mắt khóa chặt trên gương mặt không chút sinh khí của y.
Vừa rồi nàng gần như đã lật tung cả kho của Vương phủ, đem hết thảy dược liệu danh quý cùng đan hoàn ngự ban bày ra cạnh sập, bình bình lọ lọ chen kín chiếc kỷ nhỏ đầu giường, sơn vàng niêm ngọc, muôn sắc chói mắt, tựa như chỉ cần số lượng đủ nhiều thì có thể chặn đứng nỗi hoảng loạn bất ngờ dâng lên trong lồng ngực.
Vệt máu chói mắt kia tuy đã được nhanh chóng lau dọn sạch sẽ, nhưng trong không khí vẫn còn vương mùi tanh hòa lẫn hương dược thảo, cùng những vết đỏ sẫm nơi khóe môi và vạt áo Tạ Duẫn Minh chưa kịp lau sạch hoàn toàn.
A Nhược lòng vẫn còn kinh sợ chưa nguôi.
Trên trán vị lão thái y lấm tấm mồ hôi, ông nín thở tập trung, đến khi mũi kim cuối cùng hạ xuống mới thở dài nhẹ nhõm, rồi lấy ra một chiếc hộp hàn ngọc lớn chừng bàn tay. Mở nắp, bên trong nằm một viên đan hoàn.
Đó là Hộ Tâm Đan do Quốc sư Liêu Tam Vũ cùng ông trong những ngày trước, lấy mấy vị dược liệu đặc thù tìm được nơi biên cương phương Bắc giá lạnh làm chủ dược, lại phối thêm nhiều phụ liệu quý hiếm, trải qua vô số lần thử nghiệm mới luyện chế thành, vốn định dùng để từ từ điều dưỡng hàn chứng cho Tạ Duẫn Minh, không ngờ lại phải dùng đến sớm như vậy.
Thái y đút viên đan dược vào miệng Tạ Duẫn Minh, lau mồ hôi, hạ giọng nói với A Nhược: "Điện hạ là do lao lực tích tụ thành bệnh, ngũ tạng uất kết, tâm huyết hao tổn quá mức, lại gặp lúc đại bi đột ngột, hỏa khí công tâm, phá vỡ mạch quan vốn đã suy yếu. Ngụm huyết này... phun ra rồi, trái lại tiết được phần tà hỏa ứ tắc, áp lực nơi tâm mạch cũng giảm bớt."
"Hiện giờ cần đại bổ và tĩnh dưỡng. Điện hạ đã dùng thuốc, ngươi phải để tâm chăm sóc. Nếu ban đêm điện hạ phát nhiệt, sốt cao, thần phải lại hành châm trị liệu."
A Nhược khẽ gật đầu, ánh mắt trầm tối như đêm khuya.
Trên sập, hàng mi dài của Tạ Duẫn Minh rủ xuống hai vệt xanh thẫm, hơi thở mỏng như tơ, dường như chỉ cần một cơn gió nhẹ cũng đủ thổi tan.
A Nhược chỉnh lại góc chăn cho y, rồi quay người ra khỏi phòng.
A Nhược hiểu rõ, chủ tử ngã xuống, nhưng những người khác không thể dừng lại.
Nàng lui ra gian ngoài, đứng trên bậc đá tiền viện, gió đêm thổi tung vạt áo trắng đơn sơ, để lộ lưỡi đoản đao giấu trong ống giày. Một trăm hai mươi bảy người trong phủ đã bị nàng triệu tập tại đây, lặng như tờ.
"Chủ tử nhiễm phong hàn, mấy ngày này cần tĩnh dưỡng." A Nhược lên tiếng, "Từ giờ trở đi, Vương phủ chỉ để lại một cửa phụ, mỗi ngày chỉ cho người ra vào mua sắm một lần. Kẻ nào bước thừa một bước, kẻ nào thốt thừa một lời, ta tất giết không tha."
Đó là một tòa điện vũ rộng lớn, trống trải, tĩnh mịch, giữa điện chỉ có một pho tượng Phật khổng lồ sừng sững.
Màu gỗ của tượng Phật lắng đọng thành thứ ánh sáng trầm ấm, đó là Thiện Đức Phật mà trước kia hắn thường xuyên lễ bái, gương mặt từ bi, đôi mắt khép hờ dường như chứa đựng vô tận bi mẫn và trí tuệ, lặng lẽ nhìn xuống nỗi khổ trần gian.
Lúc này, Tạ Duẫn Minh đang đứng trước pho tượng Phật khổng lồ ấy.
Tượng Phật lặng im, nhưng ánh mắt cúi thấp kia lại như xuyên qua làn hương khói, rơi xuống trên người y.
Tạ Duẫn Minh ngước nhìn gương mặt từ bi ấy, chợt lên tiếng: "Sau khi con người chết đi, có thể lưu lại ở địa phủ bao lâu? Có phải... sẽ lập tức phải bước vào luân hồi luôn không?"
Tượng Phật không đáp, chỉ có ánh mắt từ bi vĩnh hằng ấy, dường như đang âm thầm hồi đáp.
Y lại hỏi: "Con người... thật sự có kiếp sau sao?"
Nếu có kiếp sau, y sẽ trả cho Lệ Phong một kiếp sau.
Tạ Duẫn Minh nghe thấy một tiếng thở dài cực nhẹ, cực khẽ.
Phật nói: "Ngươi không tin Phật, vậy vì sao lại hỏi ta về nhân quả nghiệp lực của thế giới bà sa, về lục đạo luân hồi?"
Tạ Duẫn Minh nhìn đôi mắt khép hờ của tượng Phật, chợt cảm thấy sự từ bi ấy có phần xa vời, có phần cách trở. Khóe môi y khẽ cong, tựa như đang cười: "Bởi vì đời người sống trên thế gian này, quá khổ. Làm quyền quý thì đấu đá lẫn nhau, như đi trên băng mỏng; làm thường dân thì mệnh như cỏ rác, cơm áo khó cầu. Phật nói chúng sinh đều khổ... ta bỗng thấy, làm người chẳng có gì thú vị."
"Nếu có thể... ta muốn cùng hắn hóa thành một đôi chim sẻ giữa rừng, xuân về tha bùn làm tổ, hạ đến đậu cành, thu sang bay về phương nam, đông tới ẩn mình trong tổ, không cần hiểu nỗi khổ nhân gian, cũng chẳng cần để tâm đến những rối ren hồng trần."
Trong hư không, tiếng Phạn chấn động, xa mà gần: "Có đôi cánh, tức là tự do sao? Chim chóc cũng có nỗi sợ thiên địch, nỗi khổ phong ba, nỗi lo đói rét. Tự do không nằm ở hình hài, mà ở tâm."
Tạ Duẫn Minh im lặng.
Phải vậy, cho dù hóa thành chim sẻ, y há có thể thật sự buông bỏ?
Trái tim đã bị quyền mưu thấm sâu, bị toan tính lấp đầy ấy từ lâu đã quen với việc khống chế và bày bố, quen đem mọi người, mọi việc đặt lên bàn cờ, cân nhắc giá trị, tính toán lợi hại.
Y nghĩ, nếu có kiếp sau, người kia nhất định không còn là Tạ Duẫn Minh.
"Loại người như ta..." Tạ Duẫn Minh khẽ nói, "trong mắt ta, thiên hạ đều là quân cờ, có ích thì giữ, vô dụng thì bỏ, khi làm mồi nhử, khi làm quân thí, ích kỷ, hèn hạ, lạnh lùng — điều nào ta chẳng gánh nổi?"
Hư không lặng im, rồi tiếng Phạn bỗng vang lên, bình hòa đến gần như tàn nhẫn: "Nếu đã vô tình, ngươi khóc cái gì?"
Tạ Duẫn Minh sững lại.
Y vô thức giơ tay, muốn chạm vào gò má mình.
Đầu ngón tay chạm phải một mảnh ướt lạnh.
Không phải thứ máu ấm dính nhớp, mà là dòng nước lạnh trong, liên miên không dứt, như bầy chim sổ lồng, vỗ cánh lao ra, không khống chế nổi, không quay đầu, chỉ biết lao đi, làm ướt hàng mi, rơi xuống hư không.
Y vậy mà... đã lệ rơi đầy mặt.
Mở lòng bàn tay ra, mặt nước như gương soi hiện lên một gương mặt mờ nhòe.
Mày như đao, môi như lưỡi kiếm, nhưng bị sóng nước vò nát đến tan tành, lại lộ ra một chút yếu đuối đáng thương chưa từng để ai thấy.
"Hóa ra... ta cũng biết khóc." Y khẽ đáp, tựa như không liên can đến mình, lại không thể không thừa nhận, "ta nghĩ, là vì ta đã hại một người."
"Khổ hải vô biên, quay đầu là bờ."
Thanh âm từ bi như ánh trăng rơi xuống đáy giếng khô, soi rõ những hài cốt không còn chỗ ẩn mình.
Nhưng Tạ Duẫn Minh lại lắc đầu, lòng bàn tay hướng lên, đón lấy những giọt lệ không ngừng rơi xuống: "Phật độ chúng sinh, lấy từ bi làm gốc. Nếu có người vì ta mà tay nhuốm máu, tạo nên vô số nghiệp chướng..." y khựng lại, giọng bình thản nói, "xin Phật minh giám, mọi tội nghiệp giết chóc hắn gây ra, đều tính lên đầu ta, chủ nhân của hắn. Mọi việc hắn làm, đều do ý ta, nếu có đao sơn hỏa hải, nghiệp hỏa thiêu thân, cũng nên để ta gánh chịu."
Tượng Phật vẫn trầm mặc, nhưng ánh mắt cúi xuống ấy dường như xuyên qua da thịt, ghim thẳng vào tim y.
Ánh mắt không lời, nhưng từng chữ như chuông vang: "Ngươi hỏi Phật, cầu Phật... vì sao chỉ đứng, vì sao không quỳ?"
Tạ Duẫn Minh không do dự, quỳ xuống dưới chân Phật, khi vạt áo vén lên, tựa như lột bỏ lớp da người cuối cùng của y.
Hai đầu gối chạm đất, gạch xanh vốn lạnh buốt, y lại cảm thấy nóng.
Một luồng tự tỉnh nóng rực từ dưới chân bốc lên, lan đến giữa trán, thiêu đến đáy mắt đỏ hoe.
Ngay khoảnh khắc sống lưng y cong xuống như chiếc cầu đơn độc, nơi xà điện sâu thẳm bỗng có gió rơi xuống.
Như có ai đó từ hư không đưa ra một bàn tay vô hình, khẽ vuốt qua đỉnh đầu y.
Bóng Phật trên tường bỗng phóng lớn, bao trùm lấy toàn thân y.
Thế là, cái bóng đang quỳ của y chồng lên đường nét ngồi tĩnh tọa của Phật.
Tượng Phật hỏi: "Hiện giờ, ngươi có hối hận không?"
Ý thức của Tạ Duẫn Minh dường như bị ném vào chảo dầu sôi.
Y vốn tưởng mình hiểu lòng người nhất, xem d*c v*ng của người khác như lợi khí cho bản thân, nhưng lại quên mất, Lệ Phong có lẽ mong mỏi khi trở về sẽ có được tất cả những gì hắn muốn. Thế nhưng, đứng trước điều có lợi cho Tạ Duẫn Minh, hắn chưa từng chọn điều kia. Cho dù phải chết, cho dù d*c v*ng của hắn cháy bỏng đến vậy.
Tạ Duẫn Minh lại nhớ đến những chuyện xa xưa hơn.
Nhớ đến tòa điện tuổi thơ ẩm thấp lạnh lẽo, mùi thuốc quanh năm không tan, Lệ Phong như một đứa trẻ chẳng biết từ đâu xuất hiện, sức sống mãnh liệt như cỏ dại, dùng thân hình gầy gò mà ấm áp của mình, vụng về chắn cho y vài trận bắt nạt, lén mang đến chút bánh điểm tâm, đem theo vài món đồ nhỏ bé vô dụng nhưng đầy sức sống từ bên ngoài cung tường.
Nhớ khi ở Di Sơn, khi ấy Lệ Phong đã dần lộ ra thân thủ và khí thế hơn người, như một chú ưng non đang dang dần đôi cánh, tràn đầy sinh khí khiến Tạ Duẫn Minh nằm bệnh lâu ngày cũng âm thầm ghen tị.
Thế nhưng, việc đầu tiên mỗi ngày hắn làm, bất kể mưa gió, vẫn là chen đến bên giường bệnh đầy mùi thuốc của y, chăm chăm nhìn y, canh giữ y, như thể đó là việc quan trọng nhất trên đời.
Hắn chẳng làm sai điều gì, nhưng Tạ Duẫn Minh lại nổi giận với hắn, đẩy hắn đi, hắn vẫn không chịu rời.
Nhớ một buổi chiều mưa giông sấm sét, Lệ Phong bị Thiệu lão tướng quân phạt đi gánh nước ở khe núi, lúc trở về toàn thân ướt sũng, lại bất ngờ nhào đến dưới cửa sổ khép chặt của y, cách song cửa, đôi mắt sáng kinh người, tóc nhỏ nước, trên vai như vác theo cả một mùa hè ướt át nhưng tràn đầy sức sống.
Từ nhỏ, y đã nhìn thấy mẫu thân mình sinh tồn nơi thâm cung ra sao với chiếc mặt nạ hoàn mỹ, y học rất nhanh, thậm chí còn vượt qua nàng. Thích có thể diễn ra, ghét có thể giấu đi, còn chân tâm? Đó là thứ vô dụng và nguy hiểm nhất, phải chôn thật sâu, vĩnh viễn không thấy ánh mặt trời.
Y cũng luôn làm rất tốt, tốt đến mức ngay cả chính mình cũng sắp tin là thật.
Thế nhưng...
"Ta không hối hận."
Tạ Duẫn Minh rõ ràng, bình tĩnh, nói ra bốn chữ ấy.
Tượng Phật lặng im rất lâu, bụi trên xà điện bị cơn gió vô hình thổi rơi, như một trận tuyết nhỏ.
Một hồi lâu sau, tượng Phật thở dài: "Đã không hối hận —"
"Vậy thì, tiếp tục đi."
Tạ Duẫn Minh đứng thẳng người, pho tượng Phật trước mắt, tòa điện tĩnh mịch bắt đầu dao động như sóng nước, mờ dần, một con đường như được ánh sáng lát thành trải dài trong hư vô, sáng rực nhưng mang theo cảm giác lay động không chân thực, ánh sáng ấy càng lúc càng gần, càng lúc càng rực rỡ. Cuối cùng, hội tụ thành một điểm sáng nhảy nhót, ấm áp...
Ánh nến.
Tạ Duẫn Minh bỗng mở mắt.
Tầm nhìn ban đầu mờ nhòe, rồi dần rõ ràng.
Đập vào mắt y là màn giường quen thuộc cùng một ngọn nến cháy lặng lẽ bên giường, ánh lửa khẽ lay động, chiếu gương mặt A Nhược đầy lo lắng và mừng rỡ lúc sáng lúc tối.
Cổ họng khô khốc như bốc lửa, ngực vẫn nặng nề đau tức. Nhưng cảm giác ngạt thở cận kề cái chết đã rút đi, thay vào đó là cơn suy kiệt tột độ, như thể từng khúc xương đều bị rút sạch sức lực. Y vô thức đưa tay chạm lên khóe mắt mình —
Một mảnh ẩm lạnh.
Y đã khóc trong mộng.
"Chủ tử!" Giọng A Nhược tràn đầy nhẹ nhõm, nàng vội vàng đỡ y ngồi dậy một chút, đưa chén nước ấm vừa miệng đến bên môi, "Ngài cuối cùng cũng tỉnh rồi! Ngài... đã ngủ suốt một ngày một đêm, thái y nói..."
Tạ Duẫn Minh nhờ tay nàng, chậm rãi uống vài ngụm nước, làm dịu cổ họng nóng rát, rồi thử cử động thân thể, muốn xuống giường.
"Chủ tử không thể!" A Nhược vội giữ lấy y, nói nhanh, "Mệnh lệnh của chủ tử, A Nhược đều đã làm theo. Trong phủ đã phong tỏa tin tức nghiêm ngặt, Tần tướng quân cũng đã khẩn cấp dâng tấu, lấy cớ chủ tử nhiễm phong hàn, cần tuyệt đối tĩnh dưỡng, xin miễn triều hai ngày cho chủ tử."
Động tác của Tạ Duẫn Minh khựng lại, hàng mi y rũ xuống, che đi dòng suy tính thoáng lướt qua trong mắt.
Vào cung diện thánh, dâng chứng cứ... những việc này đều cấp bách.
"Chủ tử!" Thấy y im lặng, A Nhược càng sốt ruột, gần như dốc hết sức mà nói, "Chủ tử, xin ngài nghỉ một lát đi! Với tình trạng này, nếu cố gắng vào cung, lỡ như... lỡ như lại ngất trong cung thì phải làm sao?"
Tạ Duẫn Minh bỗng trở nên yên lặng.
Y giơ tay lên, cổ tay gầy như cành ngọc vươn ra từ tuyết, lạnh lẽo mà mong manh, ngón tay thon dài nhưng mất hết sắc máu, khẽ run trong không khí, dường như chỉ cần chạm nhẹ cũng sẽ vỡ tan thành bụi.
Không cần soi gương, y cũng tự biết dáng vẻ lúc này chẳng ra sao.
Sắc môi nhạt đến gần như trong suốt, trên mặt hiện lên một tầng xanh lạnh lẽo. Y khẽ nhắm mắt lại, đến khi mở ra lần nữa, nét cười ôn hòa quen thuộc đã theo chút hồng nhạt mà hiện lên. Dẫu nụ cười ấy vì suy yếu mà trở nên nhạt nhòa, thậm chí có phần mong manh, nhưng vẫn cố chấp treo nơi khóe môi.
"Được."
Tạ Duẫn Minh đáp lời.
Dây thần kinh của A Nhược vốn căng đến cực điểm bỗng chốc thả lỏng, suýt nữa mềm nhũn cả người, ngay sau đó là niềm vui mừng khôn xiết: "Chủ tử đã chịu rồi, thật tốt quá! A Nhược đi hâm lại thuốc đem tới ngay!"
Nàng vội vã quay người, bước chân cũng nhẹ nhõm hơn hẳn.
Tạ Duẫn Minh lại nằm xuống gối, thở ra một hơi dài.
Sự đã đến nước này, có gấp cũng vô ích.
Đã buộc phải tạm hoãn, vậy thì nhân khoảng thời gian dưỡng bệnh ngắn ngủi này, tính toán cho chu toàn từng bước tiếp theo, vận dụng triệt để những chứng cứ trong tay.
Bên phía Chu Đại Đức... chỉ có thể tạm tin vào năng lực và lòng trung thành của hắn, tin rằng cuộc tìm kiếm mong manh kia vẫn còn một tia kỳ tích.
Còn ở triều đình, y phải bảo đảm rằng, khi lần nữa đứng trước mặt phụ hoàng, dâng lên không chỉ là một bộ chứng cứ tham ô, mà còn là một ván cờ đủ sức khiến phe cánh Tam hoàng tử tổn thương gân cốt, đồng thời đem lại lợi ích lớn nhất cho chính mình.
Chỉ là...
Y chậm rãi nghiêng đầu, nhìn ra màn đêm dày đặc ngoài song cửa.
Y không mơ thấy Lệ Phong.
Y nghĩ, nếu Lệ Phong thật sự đã chết, thì chấp niệm của hắn cũng sẽ không cùng xác thân vùi sâu dưới đất vàng. Nó sẽ bò ra từ bùn máu, như làn sương ẩm ướt nhất nơi sơn dã, hóa thành một luồng cô hồn nơi u minh.
Lệ Phong nhất định sẽ tìm mọi cách, phá tan mọi trói buộc, xuyên qua ranh giới âm dương, trở lại bên cạnh y, như mỗi lần khi còn sống — cố chấp, lặng lẽ, canh giữ trong bóng dáng của y, bám theo từng bước, âm thầm thấm vào vạt áo, dán sát nơi sống lưng, lạnh đến vừa đủ, nhưng không chịu tan đi.
Cứ như vậy... vĩnh viễn quấn chặt vào số mệnh của y.